Home / Góp nhặt / Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P3

Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P3

SĀMĀVATĪ

Tối thắng an trú từ tâm

Một trong ba chánh hậu của Vua Udena. Nàng là ái nữ Sāmā của Bá hộ Bhaddavatiya ở Bhaddavatī; Bá hộ là bạn của Bá hộ Ghosaka ở Kosambī. Lúc dịch khí lan tràn ở Bhaddavatī, nàng cùng cha mẹ chạy qua Kosambī và sống nhờ vào bố thí của Ghosaka. Vào ngày thứ ba khi đến đây, nàng chỉ xin một phần ăn thay vì hai hay ba như hai hôm trước. Mitta, người bố thí thực phẩm, lấy làm lạ, nhưng nàng cho biết cha nàng chết sau bữa ăn đầu tiên, kế đến, mẹ nàng chết sau bữa ăn thứ nhì, nay chỉ còn có một mình nàng. Xót thương, Mitta đem nàng về nuôi.

Một hôm, nàng giúp tổ chức giữ trật tự trong thí đường nên không còn cảnh la lối chen lấn nữa. Cảm khích, Bá hộ Ghosaka nhận nàng làm con nuôi và gọi nàng là Sāmāvatī (Sāmā người biết dùng rào, vì nàng đã biết dùng rào, vati, phân chia lối ra vào nơi phát cơm để giữ trật tự).

Trong ngày lễ hội nọ, Vua Udena thấy nàng trên đường đi tắm, đem lòng say mê và ra lệnh cho nàng tiến cung. Nhưng Ghosaka không thuận nên bị tịch thu gia sản. Để cứu cha, nàng xin được tấn cung và Vua Udena phong nàng làm chánh cung. Một thời gian sau, Udena tấn phong thêm một chánh cung nữa, Māgandiyā (q.v.).

Lúc Phật đến Kosambī thuyết pháp theo lời thỉnh cầu của ba Bá hộ Ghosaka, Kukkuṭa và Pāvāriya, nữ tỳ Khujjutarā của Sāmāvatī nghe pháp và đắc quả Dự lưu. Khujjutarā trình hoàng hậu Sāmāvatī sự việc xảy ra với nàng và nói lại bài pháp cho Sāmāvatī nghe. Được tin Phật sẽ đi ngang qua cung, Sāmāvatī cho khoét tường để có thể nhìn thấy và đảnh lễ Ngài. Biết được việc này và vì không có thiện cảm với Phật, Chánh hậu Māgandiyā tâu vua với mục đích hại Sāmāvatī (xem chi tiết trong s.v. Māgandīyā.). Nhưng nhà vua chẳng những không tin mà còn cho Sāmāvatī một điều ước; bà ước được thỉnh Phật vào cung thọ trai và thuyết pháp hằng ngày. Phật gởi Tôn giả Ānanda đi thế Ngài. Một hôm, Tôn giả được các nữ nhân trong cung cúng dường 500 bộ y. Tin này đến tai vua, ông nổi giận; nhưng sau khi nghe Tôn giả Ānanda thuyết rằng không có gì cúng dường đến các vị tỳ-khưu là của mất, nhà vua cúng dường thêm 500 bộ nữa.

Thất bại lần đầu, Chánh hậu Māgandiyā bày lần hai. Sāmāvatī và nhiều tuỳ tùng bị chết cháy trong cung. Lúc ấy, nhà vua đang dạo chơi trong rừng, khi trở về mới được tin bà và các cung nữ đã bị chết cháy. Được nhà vua hỏi, Phật nói rằng chư vị này có người đã đắc sơ, nhị, hay tam thiền.

Theo Chú giải, bà Sāmāvatī từng được tấn cung Benares trong tiền kiếp. Một hôm, đi tắm với vua, bà cảm thấy lạnh nên đốt mớ cỏ khô để sưởi. Cỏ cháy lan và đốt một vị Phật Độc giác đang nhập định. Để phi tang, bà và các cung nữ tuỳ tùng chất cỏ đổ dầu đốt thêm cho tiêu xác vị Phật. Do đó, trong kiếp này họ phải bị chết cháy (1). Hai bạn của Sāmāvatī (cùng tên Sāma) đau khổ vì cái chết của bà nên xuất gia.

Sāmāvatī được xem là một nữ đại cư sĩ của Phật, và được Ngài tuyên bố là tối thắng về trú từ tâm (aggaṃ mettāvihārinaṃ) (A. i. 26; cf. iv. 348.). Thần thông của bà để tránh tên do Vua Udena bắn tới bà thường được đề cập đến (E.g., BuA. 24; ItA. 23; PSA. 498; AA. ii. 791).

————–

(1) Chuyện của Sāmāvatī được kể trong chuyện về Udena. Xem DhA. i. 187-91, 205-225; chuyện còn được kể với đôi chút khác biệt trong AA. i. 232-4, 236 ff., được tóm lược trong UdA. 382 f. (không có chuyện Sāmāvatī bị chết cháy) và Ud. vii. 10 (chuyện Sāmāvatī bị chết cháy được mô tả tỉ mỉ ở đây). Cf. Dvy. 575 f. Theo Thanh tịnh đạo, Visuddhimagga (p. 380 f.), Māgandiyā muốn hại Sāmāvatī vì bà muốn làm chánh hậu một mình.

*

UTTARĀ NANDAMĀTĀ

Tối thắng tu thiền

Nữ cư sĩ trưởng của nhóm nữ đệ tử hộ trì Phật (Bu. xxvi. 20.). Trong Tăng Chi Bộ Kinh (i. 26.), bà được mô tả như một nữ đệ tử cư sĩ tu thiền tối thắng, nhưng đó có thể là một bà Uttarā khác. Bà còn được liệt kê trong danh sách các nữ cư sĩ thọ bát quan trai giới (A. iv. 347; AA. ii. 791.).

Theo Chú giải Tăng chi bộ (i. 240 ff.), bà là con gái của Puṇṇasīha (Puṇṇaka) (q.v.), một gia nhân của tài chủ Sumana ở Rājagaha. Về sau, khi Puṇṇasīha trở thành tài chủ đàn na (dhana-seṭṭhi) vì có tài sản kếch xù do kết quả của bữa cơm cúng dường Tôn giả Sāriputta, ông lập lễ trai đàn bảy ngày để cúng dường Phật và Tăng chúng. Vào ngày thứ bảy, sau bài pháp thoại tạ ân của Phật, Puṇṇasīha và tất cả vợ con đều đắc Sơ quả.

Lúc tài chủ Sumana xin cưới Uttarā cho con trai ông, ông bị từ chối vì không thuộc giáo phái của Phật. Puṇṇa nói với Sumana rằng Uttarā là đệ tử của Phật và hằng ngày nàng dâng Phật bông hoa tốn một đồng kahāpaṇa (tiền Ấn Độ). Khi Sumana hứa giúp Uttarā dâng lên Phật mỗi ngày hai kahāpaṇa tiền bông, ông đồng ý gả Uttarā. Sau nhiều lần thuyết phục chồng để mình được chay tịnh như lúc còn bên nhà cha mẹ ruột, Uttarā không thành công. Nàng bèn xin cha 15 ngàn kahāpaṇa để mướn kỹ nữ Sirimā lo cho chồng trong mươi lăm hôm lúc bà thọ bát quan trai. Vào ngày chay cuối cùng, trong lúc Uttarā bận lo vật thực cúng dường Phật, chồng bà đi dạo cùng với Sirimā và thấy bà làm việc cực nhọc, bèn cười bà ngu si không biết hưởng gia tài sẵn có. Uttarā cười lại ông không biết dùng đúng mức gia tài sẵn có. Còn Sirimā nghĩ rằng vợ chồng họ vui cười với nhau trước mặt nàng nên ghen tức và chụp bình dầu sôi quăng tới Uttarā. Uttarā cảm thương Sirimā, và dầu sôi đó không làm phỏng được nàng. Sirimā nhận biết mình điên, bèn xin lỗi Uttarā. Uttarā đưa nàng đến yết kiến Phật, bạch Ngài câu chuyện, và xin Ngài tha tội cho Sirimā. Vì Phật thuyết pháp cho Sirimā nghe và nàng đắc Sơ quả.

Chú giải Chuyện Thiên cung (pp. 631 ff.; Vv. 11 f.) và Chú giải Pháp cú (iii. 302 ff.; xem thêm iii. 104.) có ghi lại chuyện kể trên với nhiều chi tiết khác biệt. Theo hai chú giải này, sau khi Phật kết thúc pháp thoại, Uttarā đắc quả Tư-đà-hàm (Nhất lai), còn chồng nàng và cha chồng đắc quả Dự Lưu.

Sau khi thân hoại mạng chung, Uttarā sinh về Tāvatiṃsa (Đao-lợi thiên) trong một đền đài (vimāna). Tôn giả Moggallāna có gặp nàng trong một lần viếng Tāvatiṃsa và khi nghe kể chuyện nàng, có bạch lại Phật.

Rất lạ là Nanda (Nandamātā: mẹ của Nanda) không được nhắc đến lúc nào cả. Có ý kiến (E.g., Brethren 41, n. 1.) cho rằng Uttarā Nandamātā có thể chính là bà Veḷukaṇṭī Nandamātā, nhưng tác giả Malalasekera không cho sự xác định là đúng. Chuyện của Uttarā được kể trong Visuddhimagga (p. 313.) chứng tỏ lửa không thể làm phỏng người sống trong thương yêu, và một lần nữa cho thấy ví dụ của lực thần thông được tỏa rộng bởi định lực của thiền (p. 380-1; thêm Ps. ii. 212; PsA. 497.).

*

SUPPAVĀSĀ KOLIYADHITĀ

Tối thắng về bố thí các món ăn thượng vị

Mẫu thân của Trưởng lão Sīvalī. Bà chuyển bụng suốt bảy ngày liền cho đến khi Phật ban hồng ân bà mới sinh được(Xem chi tiết trong s.v. Sīvalī). Tương truyền rằng thai nhi ở trong bụng mẹ những bảy năm (xem Asātarūpa Jātaka, q.v.). Bảy năm có lẽ là vì bà bị hư thai bảy lần.

Suppavāsā là công nương của Vua trị vì xứ Koliya (J. i. 407). Nàng thành hôn với người Licchavi tên Mahāli (Ap. ii. 494 (vs. 28); nhưng xem AA. i. 244 mô tả chồng nàng là một nhà quý phái họ Thích-ca) và sống trong làng Sajjanela, xứ Koliya; tại đây nàng được Phật thuyết pháp về bố thí (A. ii. 62 f.). Nàng được Phật tuyên bố là tối thắng về bố thí các món ăn thượng vị (A. i. 26), hạnh tối thắng mà nàng đã phát nguyện từ thời Phật Padumuttara (AA. i. 244).

Suppasāvā được liệt kê trong danh sách các cận sự nữ (A. iv. 348) và được kể chung với chư vị Anāthapiṇḍika, Culla Anāthapiṇḍika và Visakhā như đại thí chủ được chư tỳ-khưu nhận bố thí rất hoan hỷ (DhA. i. 339; nàng được nói sống ở Sāvatthi; đó có thể là sau khi Mahāli, q.v., đến sống ở đây; cf. DhA. iv. 193 f.).

Suppavāsā Sutta.– Phật viếng nữ thí chủ Suppavāsā ở Sajjanela. Sau khi thọ thực xong, Ngài nói pháp về bố thí: các Thánh nữ đệ tử khi bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự cho người nhận. Bốn sự đó là: thọ mạng, dung sắc, an lạc, và sức mạnh (A. ii. 62 f.).

*

SUPPIYĀ

Tối thắng về săn sóc người bệnh

Nữ cư sĩ ở Benares. Bà và chồng, ông Suppiya, rất sùng đạo. Một hôm, bà đến tịnh xá thấy một tỳ-khưu bị bệnh đang cần canh thịt. Bà bảo tỳ nữ đi mua nhưng khắp Benares không đâu có thịt. Bà cắt đùi mình đưa cho bếp nấu canh dâng tỳ-khưu. Lúc biết được câu chuyện, ông Suppiya rất hoan hỷ và thỉnh Phật về nhà thọ trai. Đến nhà ông, Phật hỏi về bà. Thấy Ngài, vết thương bà lành ngay. Vì chuyện của Bà Suppiyā, Phật chế giới luật cấm tỳ-khưu ăn thịt người, dầu được hiến dâng (Vin. i. 216 f).

Suppiyā là ví dụ của người mà công đức đem lại quả ngay trong hiện kiếp (Mil. 115; cf. 291). Bà được Phật tuyên thuyết là tối thắng về săn sóc người bệnh (A. i. 26) , hạnh tối thắng mà bà từng phát nguyện từ thời Phật Padumuttara (AA. i. 244 f.; bà được đề cập trong danh sách những cận sự nữ tối thắng (A. iv. 348).

*

KĀTIYĀNĪ (KACCĀNĪ)

Tối thắng về lòng tịnh tín bất động

Nữ cư sĩ được Phật tuyên bố là tối thắng về lòng tịnh tín bất động (aveccappasāda) (A. i. 26). Bà quyết tâm đạt sự tối thắng này từ thời Phật Padumuttara.

Trong kiếp này, bà sinh trong thành phố Kuraraghara và có một người bạn sùng tín tên Kāḷī. Một hôm bà đi với bạn đến nghe Trưởng lão Soṇa Koṭikaṇṇa thuyết cho mẹ ông nghe. Trong lúc bà đi vắng, trộm viếng nhà bà. Nữ tỳ được sai đi lấy dầu để thắp đèn đến cho bà hay nhà có trộm, nhưng bà không ra về cho đến khi pháp thoại chấm dứt. Tên chúa trộm hoan hỷ với thái độ của bà nên ra lệnh cho thuộc hạ đem trả lại bà tất cả đồ đạc đánh cắp. Sau khi pháp thoại dứt, bà đắc Sơ quả. Hôm sau bọn trộm đến xin lỗi bà. Bà đưa họ tới gặp vị trưởng lão và được vị này truyền giới; về sau tất cả đều đắc quả A la hán (AA. i. 245 f ).

*

NAKULAMĀTĀ

Tối thắng về giao tiếp thân mật

Xem phần Nam cư sĩ, “10. NAKULAPITĀ VÀ NAKULAMĀTĀ” chung cho vợ chồng cư sĩ nầy.

*

KĀḶI

Tối thắng với lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn

Còn gọi là Kururagharikā, được xem như vị nữ cư sĩ đệ tử có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng (anussavappasannānaṃ) (A. i. 26).

Bà có chồng là người trong tộc Kururughara ở Avantī và có con là Soṇa Kuṭikaṇṇa. Lúc sắp sửa sinh con, bà về nhà cha mẹ ở Rājagaha. Đêm nọ, đứng hứng gió trên bao lơn, bà nghe Sātāgira và Hemavata nói về đức hạnh của Phật và tính ưu việt của giáo pháp Ngài, bà thành tựu lòng tin nơi Phật và đắc Sơ quả. Chính trong đêm ấy bà hạ sinh Soṇa. Sau đó, bà trở lại Kururughara và tại đây bà đến yết kiến Trưởng lão Mahā Kaccāna mà câu chuyện được ghi lại trong Kāḷi Jātaka (q.v.). Lúc Soṇa gia nhập Tăng Đoàn dưới sự chủ trì của Mahā Kaccāna và đến yết kiến Phật, bà cho con tấm thảm quý để trải trong liêu của Đức Phật. Khi Soṇa về nhà sau lần viếng Phật vừa nói, bà yêu cầu con thuyết pháp lại cho bà nghe như ông từng thuyết cho Phật nghe và được chính Đức Phật và các thiên thần ở vạn cõi tán thán.

Kāḷi được xem như vị niên trưởng trong số các nữ đệ tử đắc quả Dự lưu (AA. i. 133 ff.; SnA. i. 208 f.). Bà là người bạn trung thành và thân thiết của Kātiyānī (AA. i. 245). Ước vọng trở thành bậc tối thắng trong đời này đã được bà khấn nguyện từ thời Phật Padumuttara lúc bà nghe một nữ cư sĩ được tuyên bố là tối thắng vể lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn (Ibid., 247).

Có lần bà đến viếng Tôn giả Mahā Kaccāna và nhờ ông giải thích rộng rãi những vần kệ vắn tắt trong các câu hỏi của các người con gái của Māra (Kumāripañha, SN 4.25). Đó liên quan đến mười thiền án kasina (A. v. 46 f., AN 10.25).

Bình Anson

Nên xem

Đoạn trừ các điên đảo: Tu tập từng bước

Nyanatiloka Mahathera, Buddhist Dictionary (1980) vipallāsa: điên đảo (perversions) hay ‘vặn vẹo, bóp méo’ (distortions). …