Home / Góp nhặt / Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P2

Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P2

VISĀKHĀ (TỲ-XÁ-KHƯ)

Bố thí tối thắng

Nữ đại cư sĩ của Đức Phật, được Ngài khen là tối thắng về bố thí (A.i.26) và một trong những nữ cư sĩ lý tưởng (A.iv.348). Cha bà là đại gia Dhanañjaya, con của gia chủ Meṇḍaka, và mẹ bà là Sumanā. Bà sinh ra tại Bhaddiya trong xứ Aṅga.

Lúc Đức Phật cùng chư Tăng đến viếng Bhaddhiya, vì lòng bi mẫn đối với bà-la-môn Sela và nhiều bà-la-môn khác, Visākhā chỉ mới lên 7, nhưng được cha cho 500 người tuỳ tùng, 500 nô tỳ và 500 xe đưa bà đến đảnh lễ Ngài. Đến nơi, Visākhā cẩn thận dừng xe ngoài xa và đi bộ vào. Phật thuyết pháp cho bà nghe và bà đắc quả Dự lưu. Tiếp theo, trong suốt mười bốn hôm liền, cha của bà thỉnh Phật về nhà thọ trai và cúng dường.

Lúc đại gia Dhanañjaya được Vua Bimbisra cử sang xứ Kosala theo lời yêu cầu của Vua Pasenadi, Visākhā theo cha đến sống tại Sāketa. Một hôm, trên đường đi tắm về gặp trời đổ mưa, Visākhā không vội chạy núp mưa như các tuỳ tùng mà khoan thai đi vào chỗ trú. Tại chỗ trú mưa này có sứ giả của đại gia Migāra ở Sāvatthi phái đi khắp xứ tìm hôn thê cho nam tử Puṇṇavaddhana. Được các sứ giả hỏi tại sao nàng không gấp chạy vào để giữ gìn y phục, Visākhā đáp rằng nàng có nhiều y mà chỉ có một tấm thân nên thương tích gây ra cho thân là một thua thiệt lớn. Hơn nữa, nàng nói: “Gái chưa chồng như hàng đang chờ bán, không được làm hư hỏng.” Sứ giả tặng nàng bó bông, nàng nhận như quà cầu hôn rồi đi về nhà cha của bà. Các sứ giả đi theo và đặt bộ áo của Puṇṇavaddhana trước mặt ông . Ông chấp nhận lời cầu hôn và hai họ trao đổi thư từ.

Lúc nghe tin vui, Vua Pasenadi đề nghị đi cùng với Puṇṇavaddhana đến Sāketa cho thêm phần long trọng. Bá hộ Dhanañjaya tiếp đón nhà vua, Migāra, Puṇṇavaddhana, và đoàn tuỳ tùng rất trọng thể. Tất cả được mời lưu lại nhà ông trong mùa mưa và được phục vụ rất chu đáo (DhA.).

Năm trăm thợ bạc được thuê để làm trang sức bằng vàng nấu chảy cho cô dâu tương lai. Sau ba tháng gia công, trang sức chưa hoàn tất, mà củi đốt đã cạn; gia nhân được lệnh dỡ nhà cũ lấy cây ván chụm, nhưng chỉ được nửa tháng, nên phải mở kho lấy y phục nhúng dầu để làm thức ăn. Hết tháng thứ tư các thợ bạc mới làm xong trang sức. Vào thời Phật Kassapa, bà cúng dường bát, y, kim, chỉ và vải lên 20 ngàn tỳ-khưu; do đó Visākhā được hưởng trang phục như thế trong hiện kiếp (DhA. i. 395).

Bá hộ Dhanañjaya cho con của hồi môn gồm 500 xe tiền, 500 xe chén dĩa bằng vàng, 500 xe chén dĩa bằng bạc và 500 xe chén dĩa bằng đồng, gấm vóc, bơ lỏng, la, gạo, v.v. Ông cho cả cày, bừa, và 500 xe mỗi xe chở 300 nô tỳ. Còn gia súc, ông cho đứng chật trong một khuôn viên dài ba phần tư lý, ngang tám sào (=40 m). Ngòai ra, ông còn cho luôn 60 ngàn bò mộng và 60 ngàn bò cái sút chuồng tới nhập đoàn. Trong kiếp là Saṅghadāsī, bà cúng dường năm thứ sản phẩm của bò cái đến 20 ngàn tỳ-khưu và yêu cầu chư vị sử dụng, nên trong hiện kiếp Visākhā được thêm bò sút chuồng (DhA. i. 397).

Lúc Visākhā sắp rời nhà, Bá hộ Dhanañjaya dạy nàng 10 điều (mà Migāra nghe được từ phòng bên cạnh):

  1. Không đem lửa trong nhà ra ngoài ngõ.
  2. Không đem lửa bên ngoài vào nhà.
  3. Chỉ cho đến những người biết cho.
  4. Không cho đến những người không biết cho.
  5. Cho đến cả hai, những người biết cho và những người không biết cho.
  6. Ngồi một cách an vui.
  7. Ăn một cách an vui.
  8. Ngủ một cách an vui.
  9. Coi chừng lửa.
  10. Tôn trọng các vị Trời trong nhà.

Các điều ấy có nghĩa là:

  1. Không nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài. Cũng không nên đem chuyện xấu bên nhà chồng thuật lại cho người ngoài.
  2. Không nên ngồi lê đôi mách, nghe ngóng những chuyện xấu của người ngoài rồi đem về nhà bàn tán.
  3. Đồ trong nhà chỉ nên đưa cho những người nào mượn rồi trả lại.
  4. Không nên đưa cho những người mượn đồ mà không trả lại.
  5. Phải giúp đỡ thân bằng quyến thuộc nghèo khó, dầu họ trả lại được hay không.
  6. Phải ngồi đúng chỗ thích nghi. Khi thấy cha mẹ chồng đến phải đứng dậy.
  7. Trước khi ăn cơm phải coi có dọn đầy đủ cho cha mẹ chồng và chồng chưa. Cũng phải coi chừng xem người làm trong nhà có được chăm sóc đầy đủ không.
  8. Trước khi đi ngủ phải quan sát nhà cửa, ghế bàn. Cửa đóng then gài cẩn thận. Xem coi những người giúp việc trong nhà có làm đủ bổn phận của họ chưa và cha mẹ chồng đã đi ngủ chưa. Thế thường người nội trợ phải thức khuya dậy sớm, và trừ khi đau ốm, không nên ngủ ngày.
  9. Phải xem chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ chồng và chồng phải hết sức thận trọng cũng như phải thận trọng khi làm việc với lửa.
  10. Cha mẹ chồng và chồng phải được tôn kính như những vị Trời trong nhà. Nên ghi nhận rằng Đức Phật thường nhắc đến cha mẹ chồng như những vị Trời trong nhà.

Về sau, các câu đố trong bài giáo huấn này được Visākhā giải cho Migāra nghe (DhA. i. 403 f.).

Hôm sau, Bá hộ Dhanañjaya cử tám gia chủ để bảo trợ và xem xét mọi khiếu nại liên quan đến Visākhā. Lúc Visākhā về nhà chồng, Bá hộ Dhanañjaya cho phép tá điền trong 14 làng của ông được tự do theo nàng nếu muốn. Do đó, dân chúng các làng đều tình nguyện đi hết; nhưng Migāra sợ phải nuôi ăn nên đuổi họ trở về. Visākhā vào thành Sāvatthi đứng trên xe để mọi người chiêm ngưỡng. Nàng được rất nhiều quà cưới nhưng không giữ lại mà đem phân phát hết cho mọi người.

Đại gia Migāra theo phái Ni-kiền-tử nên bắt Visākhā phải phục dịch họ. Phản đối lối sống lõa thể của họ, nàng từ chối đảnh lễ họ, và bị họ ép phải đuổi nàng đi, nhưng Migāra không dám đuổi nên kéo dài thời gian. Một hôm, có một tỳ-khưu đến nhà khất thực lúc Visākhā hầu quạt cho Migāra dùng cơm. Nàng đứng sang một bên để cho cha mình thấy tỳ-khưu, nhưng ông tiếp tục ăn không để ý. Nàng với tỳ-khưu rằng: “Bạch sư, xin thỉnh sư hoan hỷ bước sang nhà khác. Cha chồng tôi đang dùng những món ăn đã hư cũ”.

Migāra nghe được nên nổi sân đuổi nàng đi. Nàng yêu cầu được đưa vấn đề ra cho tám vị bảo trợ minh xét. Nàng trình bày: ” Lúc cha chồng tôi đang dùng cháo thì có một vị tỳ khưu vào nhà khất thực. Cha chồng tôi thấy mà làm ngơ. Nghĩ bụng rằng cha chồng tôi không làm được điều thiện nào trong hiện tại mà chỉ thọ hưởng phước báu đã tạo trong quá khứ, nên tôi bạch với vị tỳ khưu: “Bạch sư, xin thỉnh sư hoan hỷ bước sang nhà khác. Cha chồng tôi đang dùng những thức ăn đã hư cũ”. Họ tuyên bố nàng vô tội. Tuy nhiên, nàng vẫn chuẩn bị ra đi trở về nhà cha mẹ ruột. Migāra yêu cầu nàng ở lại; nàng đồng ý với điều kiện ông phải thỉnh Phật và tỳ-khưu về nhà cúng dường. Ông đồng ý nhưng để không phật lòng các Ni-kiền-tử, ông không tiếp Phật và tỳ-khưu mà chỉ đứng sau rèm nghe Phật thuyết giảng. Sau bài pháp thoại, ông đắc quả Dự lưu. Ông vô cùng biết ơn Visākhā và từ đó ông dành cho Visākhā danh dự của người làm mẹ và Visākhā được gọi là Migāramātā. Chú giải (DhA.i.406 và AA.i.313) nói trong tiền kiếp, Migāra từng là trưởng nam của nàng.

Migāra quyết định biếu cho nàng một trang sức gọi là Dhanamaṭṭhaka đáng giá trăm ngàn đồng. Visākhā bán tư trang này lấy tiền xây Migāramātupāsāda (giảng đường Lộc mẫu hay Đông các giảng đường) dâng đến Đức Phật và chư Tăng.

Visākhā hạ sinh 10 nam tử và 10 nữ nhi. Mỗi con cháu bà đến đời thứ tư đều sinh con đẻ cái như vậy (tức 10 nam, 10 nữ mỗi người). Cho đến lúc bà mãn phần vào tuổi 120, bà có 84 ngàn con cháu, tất cả đều còn sống. Nhưng trong Ud. viii. 8 nói đến cái chết của một cháu nội (Dattā) khiến bà sầu muộn nhiều. Trong suốt đời bà, bà luôn luôn có vóc dáng của một thiếu nữ 16 xuân xanh. Bà có sức tương đương với năm thớt voi; truyền thuyết nói rằng có lần bà dùng hai ngón tay nắm vòi con voi (được đưa đến để đọ sức với bà) đẩy voi lùi ra (DhA. i. 409). Visākhā còn nổi tiếng là đem may mắn đến, nên được dân chúng Sāvatthi đua nhau mời mọc đến nhà trong các ngày lễ hội (DhA. i. 409).

Visākhā cúng dường thực phẩm lên 500 tỳ-khưu tại nhà mỗi ngày (J. iv. 144; DhA. i. 128). Mỗi buổi trưa bà đến nghe Phật thuyết pháp, sau đó đi quanh trong tịnh xá tìm hiểu nhu cầu của chư tỳ-khưu và tỳ-khưu ni. Nhiều lúc bà cùng đi với Cư sĩ hộ trì Suppiyā. Visākhā xin và được Phật cho tám điều ước:

  1. Dâng y đến chư Tăng trong mùa nhập Hạ cho đến khi bà chết.
  2. Để bát những vị sư đến thành Savatthi (Xá Vệ).
  3. Để bát những vị sư ra đi, rời thành Savatthi.
  4. Dâng thực phẩm đến những vị sư đau ốm.
  5. Dâng thực phẩm đến những vị ra công chăm sóc các sư đau ốm.
  6. Dâng thuốc men đến những vị sư đau ốm.
  7. Dâng lúa mạch đến chư sư.
  8. Dâng y tắm đến chư tỳ-khưu-ni.

Sau khi Lộc Mẫu giảng đường được hoàn tất, bà Visākhā rất mãn nguyện. Truyền thuyết nói rằng (DhA. i. 416 f.) trong lễ lạc thành, bà cùng con cháu chắt chít đi nhiễu và nói kệ mô tả niềm phỉ lạc được thấy nguyện ước của bà bấy lâu nay đã thành sự thật.

Chuyện tới tai Phật, Ngài dạy rằng vào thời Phật Padumuttara, Visākhā là bạn của nữ đại cư sĩ hộ trì của Phật; và vào thời Phật Kassapa bà là Saṅghadsī (công chúa út của vua Kiki) từng cúng dường và lập nhiều công quả cùng với sáu chị của bà (AA. i. 219).

Theo Chuyện Thiên cung (Vv. iv. 6; VvA. 189, 191), sau khi thân hoại mạng chung, bà Visākhā sinh làm chánh hậu của Thiên vương Sunimmitta trị vì chư Thiên Nimmānarati. Luận sư Buddhaghosa (DA. iii. 740) luận rằng Visākhā, cũng như Sakka (Đế-thích) và Anāthapiṇḍika, sẽ hưởng 131 kiếp hạnh phúc trên cõi Phạm thiên trước khi nhập Niết-bàn.

Thân thích của bà Visākhā được kinh điển đề cập đến nhiều nhất là hai nam tử Migajāla và Migāra; người chị Sujātā (dâu của Trưởng giả Anāthapiṇḍika) (A. iv. 91; AA. ii. 724; J. ii. 347); cháu nội trai Saḷha; cháu nội gái Dattā (DhA. iii. 278); và Uggaha Meṇḍakanattā. Một cháu khác cũng được nhắc tới vì bà từng bạch xin Phật cho phép người cháu này được thọ giới trong mùa an cư – lúc mà chư tỳ-khưu từ chối không truyền giới (Vin. i. 153).

Phật thuyết nhiều kinh cho bà Visākhā; đặc biệt quan trọng là kinh về các ngày trai giới – ngày bát quan trai giới, Uposatha, bố-tát (A.i.205 ff.; cf. iv. 255; DhA. iii. 58 f.). Ngài cũng dạy cho bà về việc thành tựu tám đức tính để tạo hạnh phúc (A.iv.269) và tám đức tính để được tái sinh cộng trú với chư Thiên cõi Trời Tha hóa Tự tại (A.iv.267); tóm tắt: làm tròn bổn phận của người vợ, người dâu trong gia đình, có đức tin nơi Tam Bảo, giữ ngũ giới, bố thí rộng rãi, và phát triển trí tuệ thẩm thấu tính sinh diệt đưa đến diệt trừ hoạn khổ.

*

KHUJJUTTARĀ

Tối thắng đa văn (nghe nhiều)

Nàng sinh ra trong nhà của chủ khố Ghosita (AA. i. 232); mẹ nàng lúc bấy giờ là vú nuôi của gia đình này. Lớn lên, nàng làm nữ tì của Hoàng hậu Sāmāvatī. Mỗi ngày nàng được Hoàng hậu cho tám đồng do vua cấp để mua bông. Nàng mua bốn đồng bông của người làm vườn Sumana, còn cất lại bốn đồng.

Một hôm, Phật viếng Sumana và thuyết kinh. Khujjuttarā được nghe kinh Phật thuyết và đắc quả Dự lưu. Hôm ấy nàng đem hết tiền ra mua bông. Hoàng hậu hỏi về số tiền lớn này, nàng trình hết tự sự. Từ hôm đó, Hoàng hậu Sāmāvatī dành cho Khujjuttarā mọi vinh dự, cho nàng hương liệu tắm, và nghe nàng nói pháp. Khujjuttarā làm như mẹ của Hoàng hậu, đi nghe pháp rồi về cung nói lại cho Hoàng hậu và 500 cung nữ nghe. Về sau, tất cả đều đắc quả Dự lưu. Khi Hoàng hậu tỏ ý muốn thấy Đức Phật, Khujjuttarā đề nghị bà cho khoét tường rồi nhìn ra khi Phật đi ngang. Sau khi Hoàng hậu quy tiên, bà dành hết thì giờ mình để nghe và thuyết pháp. Phật tuyên bố bà là vị nữ đệ tử tối thắng về nghe nhiều (bahussutānaṃ) (A. i. 26; DhA. i. 208 ff.; AA. i. 226, 237 f.; ItvA. 23 f.; PsA. 498 f.)

Một thời thuở xưa, Khujjuttarā làm tỳ nữ cho vua trị vì Benares. Một hôm, thấy vị Phật Độc giác lưng gù, nàng giả dạng gù như Phật; do vậy, nàng bị gù lưng trong kiếp này. Một lần khác, thấy tám vị Phật Độc giác đổi tay bưng bát vì vừa nhận cháo nóng trong cung cúng dường, nàng lấy tám vòng tay bằng ngà để chư vị lót bát (được biết tám vòng này hiện đang được tôn trí tại Nandamūla-pabbhāra); do đó nàng đạt được thượng trí và có thể học tinh tấn Tam Tạng Kinh trong kiếp này.

Vào thời Phật Kassapa, Khujjuttarā là con của một chủ ngân khố và có người bạn làm Tỳ-khưu-ni. Một chiều nọ, trong lúc nàng đang trang điểm, Tỳ-khưu-ni đến viếng. Vì không có sẵn nữ tỳ, nàng bảo Tỳ-khưu ni làm công việc của nữ tỳ giúp nàng. Do đó, nàng sinh làm nữ tỳ trong kiếp này.

Vào thời Phật Padumuttara, Khujjuttarā thấy có người được tuyên bố là tối thắng về nghe nhiều, nàng muốn được như vậy về sau (DhA. i. 226 f. etc.; Dvy. 339-41.).

Được biết các bài kinh trong Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka) là những kinh mà Khujjuttarā từng nghe Phật thuyết và được bà thuyết lại cho Hoàng hậu Sāmāvatī với cung nữ nghe. Vì tất cả các kinh này được nghe và thuyết lại tại Kosambī nên không cần nói đến địa điểm thuyết pháp; do đó câu “Ekaṃ samayaṃ Bhagavā Kosambiyaṃ viharati (Một thời Đức Thế Tôn ở tại Kosambi)” không có ghi trong kinh, trái lại, có câu “vuttaṃ h’etaṃ Bhagavatā arahatā. (Điều nầy đã được Đức Thế Tôn nói đến)” (ItvA. 32.).

Bà Khujjuttarā thường được kể như mẫu mực của các nữ cư sĩ (E. g., A. i. 88; ii. 164; iv. 368; S. ii. 236.), và trong các Chú giải (E. g., DA. iii. 910. ), bà được xem như là một ví dụ về kāmabhoginiyo (người đàn bà an lạc trong cõi dục). Bà đạt được tuệ phân tích (paṭisambhidā) trong khi là gia chủ, nhưng là tuệ phân tích của một bậc hữu học (sekha) Vsm. 442; VibhA. 388.

Bà Khujjuttarā là nữ tỳ trong Tiền thân Uraga Jātaka (J. iii. 168.) và Bhisa (J. iv. 314.), bà vú trong Tiền thân Culla-Sutasoma (J. v. 192.), và người gù lưng trong Tiền thân Kusa (Ibid., 312.). Nhờ được tinh tấn trong pháp hành (abhijānato) bà có thần thông nhớ được các kiếp trước – túc mạng thông (Mil. 78.).

Được biết khi Hoàng hậu Sāmāvatī và bạn bà bị chết cháy (UdA. 384.), Khujjuttarā thoát nạn vì bà không có tham gia vào các ác hành họ làm; lúc lửa cháy, bà không có mặt trong cung, mà ở cách đó mười dặm.

Bình Anson

Nên xem

Đoạn trừ các điên đảo: Tu tập từng bước

Nyanatiloka Mahathera, Buddhist Dictionary (1980) vipallāsa: điên đảo (perversions) hay ‘vặn vẹo, bóp méo’ (distortions). …