Home / Góp nhặt / Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P1

Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nữ – P1

Nguồn: G.P. Malalasekera, Dictionary of Pāli Proper Names – Từ điển Danh từ Riêng Pāli (1938), Trần Ngọc Lợi dịch (2011), Bình Anson hiệu đính (2017)

*

NỮ CƯ SĨ (AN 1:258-267)

  1. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta, này các tỳ-khưu, người đi đến quy y đầu tiên là Sujātā, con gái của Senānī.
  2. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … bố thí, tối thắng là Visākhā Migāramātā.
  3. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … nghe nhiều, tối thắng là Khujjuttarā.
  4. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … an trú từ tâm, tối thắng là Sāmāvatī.
  5. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … tu thiền, tối thắng là Uttarā Nandamātā.
  6. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … bố thí các món ăn thượng vị, tối thắng là Suppavāsā, con gái bộ tộc Koliya.
  7. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … săn sóc người bệnh, tối thắng là nữ cư sĩ Suppiyā.
  8. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … có lòng tịnh tín bất động, tối thắng là Kātiyānī.
  9. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … nói chuyện một cách thân mật, tối thắng là nữ gia chủ Nakulamātā.
  10. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ … có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng là Kāḷī, nữ cư sĩ ở Kuraraghara.

—————————

Trích: Tình bạn, Hòa thượng Hộ Giác (Texas, 1985)

Các Nữ Cư Sĩ:

  1. Sujata Senanidhita (Su-cha-ta Sê-na-ni-thi-ta) là đệ nhất tổ của nữ cư sĩ (giới U bà di).
  2. Visakha Migaramata (Quí-sa-kha Mi-ga-ra-ma-ta) là đệ nhất bố thí.
  3. Khujuttara (Khút-chu-ta-ra) là đệ nhất thinh văn.
  4. Samavati (Sa-ma-oa-ti) là đệ nhất từ tâm.
  5. Uttara Nandamata (Út-ta-ra Nan-đa-ma-ta) là đệ nhất nhập thiền.
  6. Suppavasa Koliyadhita (Súp-pa-oa-sa Kô-li-da-thi-ta) là đệ nhất cúng dường thực phẩm.
  7. Suppiya (Súp-pi-da) là đệ nhất phụng dưỡng bệnh nhân.
  8. Katiyani (Ka-ti-da-ni) là đệ nhất chánh tín bất thối.
  9. Nakulamata (Na-ku-la-ma-ta) là đệ nhất thân thiện với Ðức Phật.
  10. Kali Kulagharika (Ka-li Ku-la-kha-ri-ka) là đệ nhất văn thuyết tịnh tín.

-ooOoo-

SUJĀTĀ

Nữ cư sĩ đầu tiên quy y Tam bảo

Ái nữ của điền chủ Senānī trong làng Senānī gần Uruvelā. Lúc mang thai, nàng nguyện cúng dường cháo sữa đến thần cây cổ thụ trong làng nếu sinh được con trai. Ước nguyện được thành tựu, nàng bảo tỳ nữ Punnā ra gốc cổ thụ dọn dẹp để chuẩn bị lễ tạ ơn. Đến nơi, tỳ nữ thấy ngài Bồ-tát Cồ-đàm (Gotama) đang tham thiền, tưởng là thần linh xuất hiện, nên về báo cho chủ biết. Sujātā hoan hỷ đem chén vàng đựng cháo sữa đến cúng.

Ngài Bồ-tát đem bát cháo sữa đi bãi cạn Suppatitthita bờ sông Ni-liên-thuyền (Nerañjarā). Ngài ăn bát cháo sau khi tắm xong. Đây là bữa ăn duy nhất Ngài sau 49 ngày không ăn (J.i.68f.; DhA.i.71, vv.). Bát cháo sữa của Sujātā được xem như là một trong những vật thực tối quan trọng cúng dường đến Đức Phật nên được chư thiên thêm vào đó hương vị đặc biệt linh thiêng.

Yasa là con trai của Sujātā. Lúc ông đắc quả A-la-hán, cha của ông đi tìm, gặp Đức Phật, xin làm cư sĩ, và thỉnh Đức Phật về nhà thọ trai. Đức Phật đi cùng Yasa đến. Sau bữa ăn, Ngài thuyết giảng cho Sujātā cùng con dâu (vợ của Yasa), cả hai đều đắc quả Dự lưu. Hôm ấy, Sujātā xin thọ Tam quy. Bà là vị nữ cư sĩ đầu tiên xin quy y Tam Bảo (aggaṃ upāsikānaṃ paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantīnaṃ) (SA.i.154; D.ii.135). Bà đã phát nguyện để được như thế vào thời Đức Phật Padumuttara (A.i.26; AA.i.217f).

(Ghi thêm về ngài Yasa)

YASA THERA — Ông sinh ra trong gia đình đại gia rất giàu có ở Benares (Ba-na-lại) và lớn lên trong nhung lụa, ở trong ba cung theo mùa và có đủ thứ vui chơi. Đêm nọ, do nhân duyên quá khứ thúc đẩy, ông thấy cảnh bất tịnh của những hầu cận, chán nản, ông bỏ nhà ra đi về hướng Isipatana (Vườn Nai), vừa đi vừa than: “Ôi thật đau khổ, thật hiểm nguy!” Thấy ông, Đức Phật gọi: “Này Yasa, lại đây. Ở đây không có đau khổ, không có hiểm nguy.” Hoan hỷ, ông đến, cởi giày và ngồi xuống bên Đức Phật.

Đức Phật tuần tự thuyết về bố thí, về giới cấm, về cõi trời, về sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, về sự lợi ích của việc xuất ly, và về Bốn Sự Thật cao quý. Sau khi Ngài giảng xong, Yasa đắc Pháp (đắc quả Dự lưu). Cha của ông Yasa đi tìm con và đến gặp Đức Phật. Ngài dùng thần thông biến Yasa thành vô hình (Vsm.393) rồi thuyết pháp cho ông nghe. Sau bài pháp, ông xin quy y theo Phật. Như thế, ông là vị nam cư sĩ đầu tiên quy y Tam Bảo (Tevācika Upāsaka, ưu-bà-tắc Tam Bảo). Cùng lúc ấy, sau khi nghe bài pháp đó, Yasa đắc quả A-la-hán. Như thế, có thể xem như Yasa là vị cư sĩ đầu tiên đắc A-la-hán. Lúc Đức Phật thu pháp thần thông, cho Yasa gặp cha, cha ông yêu cầu con trở về với mẹ đang đau khổ vì xa con. Đức Phật bảo thế tục không còn hấp lực đối với Yasa nữa và cho phép ông gia nhập Tăng đoàn. Lúc đó, thế gian có bảy vị A-la-hán – Đức Phật, năm anh em Kiều-trần-như (Kondañña) và Yasa.

Hôm sau, Đức Phật và Yasa được cha ông thỉnh về nhà thọ trai. Sau khi ăn, Ngài thuyết pháp cho mẹ ông cùng tất cả các thành viên trong gia đình. Sau đó, mọi người đều xin trở thành đệ tử của Phật. Đó là những nữ cư sĩ đầu tiên xin quy y Tam Bảo (Tevācikā Upāsikā, ưu-bà-di Tam Bảo).

Nghe Yasa xuất gia, nhiều người bạn thân, các ông Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, và Gavampati—theo ông gia nhập Tăng đoàn; về sau tất cả đều trở thành A-la-hán. Sau đó, có thêm 50 thân hữu nữa cũng theo ông xuất gia và đắc quả thánh (Vin.i.15-20; DhA.i.72). Như thế, vào lúc đó trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.

Vào thời Phật Sumedha, Yasa làm Xà vương Nāga có thỉnh Phật và chư Tỳ-khưu về cung để thọ trai và cúng dường y. Vào thời Phật Siddhatta, ông làm một đại gia có cúng dường đến cây Bồ-đề bảy loại châu báu. Vào thời Phật Kassapa, ông là một Tỳ-khưu. Ông đã từng làm vua trời trong 18 ngàn kiếp và làm vua ở cõi người một ngàn lần. Đi đến đâu, ông cũng được che bằng lọng vàng và giàn hoả trà tỳ ông được che bằng mái vàng (ThagA.i.232f). Ông được xem là Trưởng lão Sabbadyaka ghi trong Apadāna (Ap.i.333f). Trong Theragāthā có kệ của ông (vs. 117).

Yasa thường được dẫn như một người có đời sống cực kỳ xa hoa (AA.ii.596).

Chú giải Dhammapada (DhA.i.82f) nói rằng trong nhiều tiền kiếp, Yasa đi đó đi đây cùng với bốn bạn để làm các thiện sự. Một hôm họ gặp và đưa xác một nữ nhân mang thai đến chỗ hoả thiêu. Tại đó, mọi người đều bỏ đi, chỉ còn một mình ông ở lại để hoàn tất. Khi hỏa thiêu xác chết, ông phát tâm tư gờm tởm thân thể con người. Sau đó, ông chia sẻ tâm tư nầy đến bạn bè, cha mẹ và các người vợ. Họ đều tán đồng những gì ông chia sẻ. Vì lý do đó, ông cảm thấy chán nản đời sống gia đình, và cùng với những người bạn và thân quyến trong gia đình có khả năng thông hiểu Phật Pháp ngay trong giai đoạn đầu tiên của công cuộc hoằng pháp của Đức Phật.

Về sau nầy, lễ truyền giới cho Yasa được ghi khắc trên phù điêu trong Đại Tháp ở Anurādhapura do vua Dutthagāmani tạo dựng ở Tích Lan (Mhv.xxx.79).

Theo Chú giải Tăng chi (AA.i.218f), Sujātā Senānīdhītā (người dâng bát cháo sữa đến Đức Phật) là mẹ của Yasa. Bà đắc quả Dự lưu sau khi nghe Phật thuyết pháp.

Bình Anson

Nên xem

Đoạn trừ các điên đảo: Tu tập từng bước

Nyanatiloka Mahathera, Buddhist Dictionary (1980) vipallāsa: điên đảo (perversions) hay ‘vặn vẹo, bóp méo’ (distortions). …