Home / Góp nhặt / Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nam – P7

Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nam – P7

SŪRA-AMBAṬṬHA

Tối thắng về lòng tịnh tín bất động

Nam cư sĩ được Phật tán thán là tối thắng về có lòng tịnh tín bất động (aggaṃ aveccappasannānaṃ). Ông phát nguyện được sự tối thắng này từ thời Phật Padumuttara (A. i. 26; cf. iii. 451).

Vào thời Phật hiện tiền, ông sinh làm con của một gia đình chủ ngân khố ở Sāvatthi và đi tu theo ngoại đạo. Một hôm, thấy Sūra đủ duyên lành, Phật đến khất thực ở nhà ông. Ông thỉnh Ngài vào nhà, đặt Ngài ngồi trên một sàng toạ đầy đủ tiện nghi và mời Ngài thọ trai. Lúc Ngài nói lời tuỳ hỷ, ông đắc quả Dự lưu.

Sau khi Phật ra về không bao lâu, Māra (Ma vương) giả dạng Ngài đến để nói rằng Ngài muốn nói lại điều Ngài vừa nói trước đó. Trước đó, Ngài nói các hành là vô thường, v.v. nhưng suy nghĩ lại, bây giờ Ngài kết luận chỉ có một số, không phải tất cả, các hành là vô thường. Sūra nhận ra và đuổi Māra đi (AA. i. 215; cf. DA. iii. 864).

*

JĪVAKA-KOMĀRABHACCA (KỲ-VỰC)

Tối thắng được dân chúng kính mến

Đây là vị lương y tài danh. Ông là con của kỹ nữ Sālavatī ở Rājagaha (thành Vương Xá) (AA. (i. 216) ghi rằng Abhayarājakumāra là cha của bé). Ngay sau khi lọt lòng, bé bị bỏ rơi trong đống rác và được vương tử Abhaya cứu. Lúc Abhaya hỏi, người ta nói rằng “bé sống” (jīvati) nên bé được gọi là Jīvaka. Và vì được ông hoàng nuôi dưỡng (kumārena posāpito) nên bé có thêm tên Komārabhacca (có thể Komārabhacca mang ý nghĩa là bậc thầy về khoa Kaumārabhṛtya (nhi đồng); VT. ii. 174; trong Dvy (506-18) chàng được gọi là Kumārabhūta).

Lúc trưởng thành chàng theo bạn đi Takkasilā học mà Abbhaya không hay biết. Chàng học y trong bảy năm. Thân chủ đầu tiên của vị tân lương y là phu nhân của một chủ ngân khố ở Sāketa. Ông được trả công bằng 16 ngàn kahāpaṇa, một nam nô tỳ, một nữ nô tỳ và chiếc xe ngựa. Lúc trở về Rājagaha, ông được Abhaya cho nhà riêng để mở nơi trị bệnh. Ông trị bệnh lỗ rò (fistula) của Vua Bimbisāra (Bình-sa) và được Vua ban cho tất cả nữ trang của 500 cung phi của ông. Rồi ông được cử làm ngự y chữa trị cho Vua, cung phi, Phật, và chư tỳ-khưu trong Tăng đoàn. Ngoài ra ông còn giải phẫu cho chủ ngân khố ở Rājagaha, và trị bệnh đường ruột cho con chủ ngân khố ở Benares (Ba-na-lại) và được trả cho 16 ngàn kahāpaṇa.

Lúc Vua Candappajjota xứ Ujjeni lâm bệnh, Vua Bimbisāra gởi Jīvaka đến Ujjeni trị cho ông. Candappajjota ghét bơ sữa trâu lỏng nhưng đó lại là thuốc cần cho ông. Jīvaka bốc thuốc rồi dùng ngự tượng Bhaddavatikā ra đi trước khi nhà vua khám phá thuốc bơ sữa trâu lỏng. Nhà vua cho nô tỳ Kāka rượt bắt ông. Bấy giờ ông đang ăn sáng ở Kosambī, và Kāka không từ chối được lời mời nên ăn nửa bánh myrobalan (hạt Chiêu Liêu hay Kha Tử) và bị xổ nặng. Jīvaka khuyên Kāka hoãn chuyến về và giải thích tại sao ông trốn đi. Rồi ông trả lại voi và lên đường về Rājagaha. Vua Pajjota lành bệnh và gởi biếu Jīvaka bộ y bằng hàng quý của xứ Sīveyyaka và ông cúng dường bộ y đó đến Phật (Vin. i. 268-81; AA. i. 216).

Jīvaka rất quý mến Phật. Lần nọ Phật lâm bệnh, ông thấy cần bốc cho Phật một liều thuốc xổ, dùng mỡ thoa lên thân Ngài, và dùng bông sen để tăng hương thơm cho không khí Ngài thở. Bấy giờ Jīvaka cần phải đi. Lúc nhớ rằng ông không có bạch Phật tắm nước nóng sau khi thuốc xổ có hiệu nghiệm, nhưng Phật đã tắm như được bạch trước vì Ngài đọc được tâm ý của Jīvaka (1).

Sau khi Jīvaka đắc quả Dự lưu, ông muốn được yết kiến Phật mỗi ngày hai lần, nhưng Veḷuna (Trúc Lâm) lại ở xa. Ông bèn xây trong khu vườn xoài của ông ở Rājagaha một tịnh xá để cúng dường Phật và chư tỳ-khưu (DA. i. 133; MA. ii. 590).

Sau khi Vua Bimbisāra băng hà, Jīvaka tiếp tục làm ngự y cho Vua Ajātasattu (A-xà-thế) và thu xếp để đưa nhà vua này đến yết kiến Phật vì ăn năn tội giết cha (Xem Sāmaññaphala Sutta để biết chi tiết; xem thêm J. i. 508 f.; v. 262, v.v.).

Là một ngự y danh tiếng, Jīvaka rất bận rộn, tuy nhiên không khi nào ông xao lãng nhiệm vụ đối với Tăng Đoàn. Do đó có nhiều người bị bệnh nhưng không chạy chữa nổi nên xin gia nhập Tăng đoàn để được ông trị bệnh. Thấy có sự lạm dụng, ông bạch Phật chế giới cắm thu nhận vào Tăng đoàn những người mắc phải một số bệnh (Vin. i. 71 ff). Jīvaka được Phật tuyên bố là tối thắng trong các vị nam cư sĩ được dân chúng kính mến (A. i. 26) Ông còn được liệt kê trong danh sách nam nhân sống thấy được bất tử, chứng ngộ được bất tử (Ibid., iii. 451; DhA. i. 244, 247; J. i. 116 f).

Jīvaka có lần thỉnh Phật về thọ trai. Phật không chịu dùng bữa vì thấy còn thiếu tỳ-khưu Cūlapanthaka (Chu-lợi Bàn-đặc) không được mời. Lúc tỳ-khưu này được đưa đến Ngài mới bắt đầu thọ thực (Chi tiết, xem câu chuyện về. Cūlapanthaka).

Có thể kinh Jīvaka ảnh hưởng đến sự chuyển hoá của Jīvaka. Jīvaka đến viếng Phật tại Vườn Xoài và bạch hỏi có phải Phật vẫn dùng thịt của thú vật mà Ngài biết được giết để cúng dường Ngài? Phật bảo đó là xuyên tạc và dạy có ba trường hợp không được phép dùng thịt, đó là khi có thấy, nghe và nghi con vật ấy đã vì mình mà bị giết. Jīvaka tán thán Phật và xin Phật nhận mình làm đệ tử (M.i.368, MN 55)

Tăng chi bộ có ghi câu chuyện ông bạch hỏi Phật thế nào là một nam cư sĩ, Phật trả lời rằng nam cư sĩ (upāsaka, ưu-bà-tắc) là người quy y Phật, Pháp và Tăng; là người giữ ngũ giới; là người thực hành vừa tư lợi vừa lợi tha (A. iv. 222 f).

Jīvaka có người em gái là Sirimā(SnA. i. 244; DhA. iii. 106).

Theo khuyến cáo của Jīvaka, Phật có chỉ thị cho các tỳ-khưu tập thể dục. Lần ấy đến Vesāli công tác, ông có ghi nhận nước da xanh xao và tình trạng không mấy khoẻ mạnh của các vị tỳ-khưu (Vin. ii. 119).

——————–

(1) Vin. i. 279 f.; DhA. (ii. 164 f.) có kể một chuyện tương tợ nhưng trong một trường hợp khác. Lúc Phật bị miểng đá trúng chân chảy máu, Ngài được đưa từ Maddakucchi đến Ambavana, và được Jīvaka rịt thuốc cầm máu. Sau đó Jīvaka đi công chuyện định lúc về sẽ tháo băng thuốc. Nhưng lúc trở về ông không vào thành được vì cổng đã đóng lúc chạng vạng. Ông nóng lòng vì sợ thuốc qua đêm sẽ làm Phật đau nhức. Nhưng Phật đọc được tâm ý của Jīvaka và tự tháo băng thuốc ra. Xem thêm J. v. 333.

Jīvakambavana.—Vườn Xoài của Lương y Jīvaka ở Rājagaha. Trong vườn ông có xây một tịnh xá và Phật có đến đây an trú nhiều lần. Có lần vì Vua Ajātasattu Phật thuyết Sāmaññaphala Sutta (Kinh Sa-môn quả, D. i. 47 ff); nhà vua được đưa tới yết kiến Phật vì hối hận đã giết cha là Bimbisāra. Các bài kinh Jīvaka Suttā khác cũng được Phật thuyết tại đây.

Vườn Xoài này gần Maddakucchi nơi Phật bị miểng đá trúng chân chảy máu, Ngài được đưa đến đây (DhA. ii. 164, v.v.). Tại vườn này, ngài Cūlapanthaka đắc quả A-la-hán; lúc bấy giờ có 500 tỳ-khưu trú tại đây (J. i. 114 f., v.v.). Các vị tỳ-khưu-ni cũng được nói có đến Vườn Xoài để nghỉ trưa (ThigA. 245 f.).

*

NAKULAPITĀ VÀ NAKULAMĀTĀ

Tối thắng về giao tiếp thân mật

Hai ông bà gia chủ ở Suṃsumāragiri trong xứ Bhagga. Ông bà đến yết kiến Phật lúc Ngài an trú tại Bhesakaḷāvana. Gặp Phật, ông bà sụp quỳ dưới chân Ngài, gọi Ngài là “con” và hỏi sao Ngài đi xa lâu vậy. Được biết ông bà là từng là cha mẹ của ngài Bồ-tát những 500 kiếp và là họ hàng trong nhiều kiếp hơn nữa. Phật thuyết giảng và ông bà đắc Sơ quả (Dự lưu). Phật đến làng viếng ông bà một lần nữa lúc ông bà về già. Ông bà thỉnh Ngài thọ trai và bạch rằng ông bà luôn hy sinh cho nhau trong đời này và bạch xin Ngài giáo giới cho pháp để hai ông bà luôn được hạnh phúc bên nhau trong các kiếp sau (đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí). Phật tuyên bố với Tăng Đoàn ông bà là cư sĩ tối thắng về giao tiếp một cách thân mật (A. i. 26; ii. 61 f.; AA. i. 216 f., 246; ii. 514; SA. ii. 182).

Một hôm, Nakulapitā bị bệnh, bà thấy ông lo âu. Bà liền khuyên ông chớ âu lo cho ông, cho bà, hay cho con cái. Bà nói với giọng khẳng định khiến ông an tâm và khỏi bệnh. Sau đó ông đến viếng Đức Phật kể lại chuyện này. Phật tán thán ông có người vợ tốt (A. iii. 295 ff.).

Tương ưng bộ (S. iii. 1 ff.; iv. 116; A. iv. 268) có ghi lại các câu chuyện giữa Phật và ông bà gia chủ Nakulapitā (Nakulapitā Sutta). Gia chủ Nakulapitā yết kiến Phật và bạch hỏi tại sao một số chúng sinh được giải thoát trong đời này còn số khác thì không. Đó là vì chấp thủ vào sáu trần, Phật đáp. Tiếp theo, Ngài giảng giải cho ông nghe (S. iv. 107, 116). Một lần khác, gia chủ Nakulapitā xin Phật giáo giới để ông được an lạc trong lúc tuổi về chiều hay đau yếu. Phật dạy ông tu tập tâm, và luôn ghi nhớ: “Dù thân ta có đau, nhưng tâm ta sẽ không đau theo”. Tiếp theo, ông yết kiến Tôn giả Sāriputta để xin được giải thích điều Phật dạy. Tôn giả giải thích cặn kẽ pháp tu tập tâm bằng cách diệt trừ các ý tưởng về ngã đối với các uẩn (S. iii. 1 ff.).

Cả hai ông bà được Phật tuyên bố là hai vị tối thắng về “nói chuyện một cách thân mật” (A. iii. 465; iv. 348). Được biết (A. i. 216) ước muốn làm người tối thắng phát khởi nơi ông bà Nakulapitā từ thời Phật Padumuttara. Bấy giờ ông làm gia chủ ở Haṃsavatī và có mặt trong lúc Phật tuyên bố với Tăng Đoàn vị tối thắng trong số các vị cư sĩ giao tiếp một cách thân mật.

Bình Anson
-ooOoo-

Nên xem

Đoạn trừ các điên đảo: Tu tập từng bước

Nyanatiloka Mahathera, Buddhist Dictionary (1980) vipallāsa: điên đảo (perversions) hay ‘vặn vẹo, bóp méo’ (distortions). …