Home / Góp nhặt / Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nam – P5

Đệ Tử Cư Sĩ Thời Đức Phật – Các Cư Sĩ Nam – P5

HATTHAKA

Tối thắng về nhiếp phục một hội chúng

Được gọi là Āḷavaka. Nam cư sĩ tối thắng về nhiếp phục một hội chúng nhờ Bốn nhiếp pháp (catūhi vatthūhi parisaṃ saṅgaṅhantānaṃ)( A. i. 26). Ông là thái tử của vua trị vì xứ Āḷavī (nên được gọi là Āḷavaka) được Phật cứu khỏi bị Dạ xoa Āḷavaka ăn thịt. Ông được gọi là Hatthaka vì được một Dạ xoa giao cho Phật sau khi Dạ xoa được Ngài cảm hoá, và được Phật giao lại cho các sứ giả của triều đình. Ông được “giao từ tay này qua tay khác” (hatthato hatthaṃ gatattā)( AA. i. 212; SnA. i. 240).

Khi lớn lên, ông được Phật thuyết pháp cho nghe nhiều lần và đắc quả A-na-hàm (Bất lai). Ông luôn luôn có một hội chúng tùy tùng gồm 500 cư sĩ và là một trong bảy vị cư sĩ có hội chúng đông như vậy (SA. iii. 223). Ông được gặp Phật nhiều lần. Lần tại Gomagga trong rừng Siṃsapā gần Āḷavī, ông bạch hỏi Ngài có sống an lạc không? Ngài đáp rằng lúc nào Ngài cũng là một trong số những người sống an lạc trên đời (A. i. 136 f.). Lần khác Phật hỏi ông làm sao thu nhiếp được hội chúng lớn của ông? Ông bạch rằng ông thu nhiếp với bốn nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) mà Ngài đã giảng. Sau khi Hatthaka ra về, Phật tán thán ông với chư tỳ-khưu rằng ông thành tựu được tám đức tính vi diệu: có lòng tin, giữ giới, có lòng xấu hổ, có lòng sợ hãi, nghe nhiều, có bố thí, có trí tuệ, thiểu dục (A. iv. 218 f.; tánh thiểu dục của ông còn được kể trong nhiều chỗ khác, như A. iv. 216).

Như gia chủ Citta-gahapati (hay Citta), thái tử Hatthaka thường được xem như một tấm gương cho nhiều người noi theo (S. ii. 235; A. i. 88; ii. 164; iii. 451).

Sau khi mạng chung, thái tử Hatthaka sinh lên cõi Avihā trong Tịnh cư thiên và từ đó không còn tái sinh nữa. Ông có lần xuống viếng Phật cố đứng thẳng nhưng cứ bị chìm xuống, không đứng thẳng được. Ngài khuyên ông hoá thành một tự thể thô xấu; ông đứng lên được. Ông bạch rằng ông luôn luôn bị bao vây bởi chư thiên muốn học Pháp, và rằng ông mạng chung trong lúc còn ba điều tiếc: không bao giờ vừa đủ được thấy Thế Tôn; không bao giờ vừa đủ được nghe diệu pháp; không bao giờ vừa đủ được phục vụ chúng Tăng (A. i. 278 f. ).

Trong Phật sử (Buddhavaṃsa, Bu. xxvi. 19), gia chủ Citta-gahapati và thái tử Hatthakāḷavaka được gọi là đại cư sĩ hộ trì (aggupaṭṭhākā) của Phật Gotama.

 *

AHĀNĀMA SĀKYA

Tối thắng về bố thí các món ăn thượng vị

Phó vương thuộc dòng tộc Sākya (Thích-ca), con của Amitodana (em trai vua Tịnh Phạn, Suddhodhana), anh của Anuruddha (A-nậu-lâu-đà, A-na-luật), bạn chú bác của Phật Thích-ca. Lúc các gia đình ở Kapilavatthu cử người theo Phật gia nhập Tăng đoàn, Mahānāma cho phép Anuruddha xuất gia (1) và cúng dường rất rộng rãi nên được tiếng là cư sĩ tối thắng về bố thí các món ăn thượng vị (A. i. 26.). Một thời, ông được phép Phật để cung cấp thuốc men cho Tăng đoàn ba lần liền, cứ bốn tháng một lần. Nhóm Lục sư (Chabbaggiyā) tìm cách nói ra nhưng ông không nản lòng (2). Là một Phật tử tín thọ nơi Phật và luôn luôn muốn học hỏi, ông thường yết kiến Phật cũng như chư vị Tôn giả Ānanda, Godha và Lomasavaṅgisa (Xem s.v. Mahānāma Sutta. Xem thêm s.v. Lomasavaṅgisa).

Lần nọ Phật du hành đến Kapilavatthu, ông tìm không ra chỗ thích hợp nên đề nghị Phật tạm trú tại am thất của Sa môn Bharaṇḍu Kālāma (S. v. 327 f.). Sáng hôm sau ông đến và có cuộc đàm thoại giữa ông, Bharaṇḍu và Phật; sau đó Bharaṇḍu ra đi không trở lại Kapilavatthu vì nghĩ mình đã nói lên điều Phật bác bỏ trước mặt họ Thích Mahānāma có thế lực lớn (Xem chi tiết trong s.v. Bharaṇḍu.). Lần khác Mahānāma đến viếng Phật đang tịnh dưỡng tại Nigrodhārāma và bạch hỏi định đến trước hay sau niệm. Để Phật nghỉ ngơi, thị giả Ānanda đưa ông ra ngoài giảng cho ông giáo pháp của Phật về vấn đề này (Xem Sakka Sutta, S. i. 219 f.).

Mahānāga có một ái nữ, Vāsābhakhattiyā, với nô tỳ Nāgamuṇḍā; ái nữ này được ông đề nghị gả cho Vua Pasenadi lúc nhà vua muốn kết thân với Kapilavatthu. Để đánh tan mọi nghi ngờ về hậu ý không tốt của ông (gả cho vua người thuộc hàng hạ liệt), ông ngồi cùng bàn và dùng cơm cùng đĩa với nàng. Cơm vô miệng nhưng chưa kịp nuốt, ông được sứ giả đến triệu đi; ông bảo con tiếp tục bữa cơm (DhA. i. 345 f.; J. i. 133; iv. 145 f.).

Xem Cūla-Dukkhakkhandha Sutta (Tiểu kinh Khổ uẩn, MN 14) và Kaṅkheyya Sutta (Kinh Nghi ngờ, SN 54.12) được thuyết vì ông.

Phát tâm muốn làm người tối thắng về bố thí thực phẩm thượng vị của ông phát khởi trong một tiền kiếp, lúc ông (làm gia chủ ở Haṃsavatī) nghe Phật Padumuttara (3) tán thán một cư sĩ của Ngài như vậy (AA. i. 213.).

Ông là một cư sĩ gương mẫu có lòng tịnh tín đối với Phật (A. iii. 451.).

Theo Chú giải tạng Luật (Sp. iv. 857), ông lớn hơn Phật một tháng tuổi và là bậc Sakadāgāmī (Nhất lai, Tư-đà-hàm).

——————————–

(1) Vin. ii 180 f.DhA. i. 133; iv. 124, etc.; nhưng nguồn kinh điển Đại thừa (Rockhill, p. 13) nói rằng ông là con của Dronodana. Theo ThagA. ii. 123, Ānanda là em, hay em khác mẹ, của ông, bởi Chú giải ghi rằng cha của Ānanda là Amitodana. Nhưng MA. i. 289 nói rằng cha của ông là Sukkodana còn cha của Ānanda là Amitodana.

(2) Vin. iv. 101; AA (i. 213) thêm rằng đó là thời kỳ túng thiếu của Phật và chư tỳ-khưu ở Verañja. Cuối năm, ông muốn tiếp tục cung cấp nhưng Phật không cho phép.

(3) Phật Padumuttara là vị phật thứ 13 trong số 28 vị Phật, được Phật sử ghi lại.

Bình Anson

Nên xem

Đoạn trừ các điên đảo: Tu tập từng bước

Nyanatiloka Mahathera, Buddhist Dictionary (1980) vipallāsa: điên đảo (perversions) hay ‘vặn vẹo, bóp méo’ (distortions). …