Home / Căn bản Phật Pháp / Thiền phái Trúc Lâm

Thiền phái Trúc Lâm

 

NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM

Tại Việt Nam có một thiền phái rất quan trọng, được gọi là thiền phái Trúc Lâm, xuất phát từ núi Yên Tử, miền Bắc Việt Nam. Trúc Lâm có nghĩa là rừng tre,

Đứng về phương diện hình thức thì tổ sư của thiền phái này là vua Trần Nhân Tông, hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ. Như vậy vị khai tổ của phái Trúc Lâm là một vị vua đã xuất gia.

Tuy vậy chúng ta chưa nói đến Trần Nhân Tông Trúc Lâm Đại Sĩ, mà trước hết chúng ta hãy nói về các vị thiền sư có ảnh hưởng sâu đậm đến thiền phái Trúc Lâm.

Đầu tiên là Trần Thái Tông, ông nội của Trần Nhân Tông.

THIỀN SƯ TRẦN THÁI TÔNG

Cũng như thiền sư Tăng Hội, thiền sư Trần Thái Tông đã để lại những văn bản rất xác thực về sự giảng dạy của ngài. Đây là một vị thiền sư cư sĩ với kiến thức về Phật pháp rất uyên bác, và với sự thực tập rất sâu sắc. Ngày nay ở Việt Nam, nếu chúng ta đem ra 1000 vị xuất gia thì chưa chưa chắc đã có một vị có kiến thức Phật pháp uyên bác bằng, và thực tập chín chắn bằng Trần Thái Tông. Nói như vậy để quý vị biết vị thiền sư cư sĩ đó vĩ đại như thế nào.

Trong cuốn Zen Keys phần sau có bản dịch một số các công án của vua Trần Thái Tông.

Chúng ta còn có bản dịch Khóa Hư Lục của học giả Đào Duy Anh. Tuy nhiên bản này không dịch đầy đủ tất cả các tác phẩm. Chúng ta cũng có bản dịch của cư sĩ Thiều Chửu.

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận 1, cũng có một chương nói về Trần Thái Tông. Quý vị cũng có thể tham khảo thêm từ đó.

Vua Trần Thái Tông sinh năm 1218 và tịch năm 1277, hưởng thọ 60 tuổi. Vua không xuất gia nhưng vua đã nhường ngôi rất sớm cho con là Trần Thánh Tông để có thì giờ tu học và thực tập.

Không phải sau khi nhường ngôi rồi thì vua mới hạ thủ công phu để thực tập thiền học. Nhà vua đã thực tập thiền từ lâu, và việc hạ thủ công phu đó đã bắt đầu từ năm vua mới 20 tuổi. Cố nhiên sự thực tập đó kéo dài trong suốt thời gian ngài ở ngôi vua. Ngài vừa làm vua, vừa thực tập Phật học, và thực tập một cách rất tinh chuyên. Vua rất xứng đáng làm mẫu mực cho những nhà chính trị, tại vì đời sống tâm linh của vua rất cao và rất sâu, đồng thời vua là một nhà chính trị rất hoạt động. Cố nhiên sau khi nhường ngôi cho con là vua Trần Thánh Tông thì vua lại có nhiều thì giờ hơn nữa để thực tập đạo thiêng.

Cuộc Đời Của Nhà Vua Bất Đắc Dĩ

Như chúng ta đã biết vua xuất thân từ miền biển, trong một gia đình đánh cá họ Trần, tên là Cảnh. Năm 8 tuổi chú bé Trần Cảnh đã được đưa vào trong cung. Hồi đó là cuối đời Lý. Vua cuối cùng của nhà Lý là Huệ Tông. Chính vì vua Huệ Tông cho nên gia đình họ Trần ở ven biển liên hệ được với hoàng triều, và những người trong gia đình họ Trần được đưa về trọng dụng ở trong triều Lý.

Vua Huệ Tông hồi còn là hoàng tử đã đến miền biển, đã gặp một cô gái đẹp mê hồn ở ven biển, và đã yêu cô gái Trần Thị đó. Hồi đó Lý Huệ Tông mới có 16 tuổi. Vì giặc giã trong nước lung tung cho nên Lý Huệ Tông phải ra miền biển để tị nạn, và cư trú tại nhà của một gia đình họ Trần. Vì vậy mà hoàng tử quen biết cô gái xinh đẹp đó của nhà họ Trần, rồi hoàng tử đem lòng yêu nàng.

Sau này Lý Huệ Tông đã đưa cô gái đó về cung, đã cho làm vương phi rồi cuối cùng người con gái đó đã được lập lên hoàng hậu, và đã sinh ra hai cô bé. Năm 1216 thì sinh một cô bé tên là Thuận Thiên. Thuận thiên tức là thuận theo ý của trời. Sau đó hoàng hậu sinh thêm một cô gái khác tên là Chiêu Thánh.

Rất tiếc là Lý Huệ Tông bị bệnh tâm thần cho nên không có khả năng giữ nước và trị nước. Dưới trướng của Lý Huệ Tông có những người như là Đàn Vỹ Mông tuy là quyền cao chức trọng nhưng lại không giỏi và không trung kiên lắm. Trong khi đó thì những người tài giỏi của họ Trần ở miền biển, đem hết tài lực của mình để phò vua. Vì vậy những người họ Trần bắt đầu có vai vế ở trong triều đình, trong đó có Trần Thủ Độ, chú họ của Cảnh, lo về việc an ninh ở trong cung điện, giữ chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ.

Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai cô con gái. Năm 1224 thì người ta lập cô bé Chiêu Thánh lên làm Nữ Hoàng nước Đại Việt, tức vua Lý Chiêu Hoàng, hồi đó hình như mới được 7 tuổi! Ngày xưa nhiều khi vì cần thiết, một đứa bé đã phải lên làm vua. Dù năm hay là bảy tuổi vẫn phải lên làm vua cho có vị, còn người lớn thật sự lo việc nước. Tất cả những văn thư, những đạo dụ đều do các vị triều thần thảo ra để cho vua ký. Cố nhiên lúc đó thì thế lực của những người họ Trần đã rất quan trọng trong triều đình.

Sau đó Lý Huệ Tông đi xuất gia ở chùa Chân Giáo, pháp hiệu là Huệ Quang. Một mặt Lý Huệ Tông không có sức khỏe, mặt khác là thiếu tài năng, thiếu vây cánh, cho nên Lý Huệ Tông hình như bị ép buộc phải từ bỏ quyền bính. Có lẽ Lý Huệ Tông cảm thấy không có con đường nào khác cho nên đi xuất gia. Chúng ta nên nhớ Lý Huệ Tông là người không được bình thường lắm, cho nên ở chùa có thể là yên tĩnh hơn.

Trong khi đó thì Trần Thủ Độ có ý định đem nhà Trần thay thế nhà Lý. Trần Thủ Độ là một người rất thông minh, rất mưu lược, tuy không phải là một nhà trí thức nhưng ông rất giỏi. Ông có một dự án sẽ thay nhà Lý bằng nhà Trần. Cho nên cậu bé Trần Cảnh 8 tuổi đã được đưa vào cung để hầu hạ Lý Chiêu Hoàng, lúc đó cũng mới khoảng 7, 8 tuổi, vì vậy có một đứa bé khác để cùng đùa chơi thì rất thích.

Trần Cảnh cùng về thủ đô với người anh tên là Trần Liễu. Cả hai là con của một người tên là Trần Thừa. Nhưng Cảnh dễ thương hơn Trần Liễu nhiều. Cảnh đức hạnh và hiền lành hơn Liễu cho nên Cảnh được chọn làm chức Chính Chi Ứng Cục để hàu hạ ở trong cung.

Năm 1225 Cảnh được đưa vào cung và Cảnh có bổn phận phải thắp đèn cho nữ hoàng, phải bưng nước cho nữ hoàng rửa, phải đưa khăn cho nữ hoàng lau tay, và nữ hoàng rất thích Trần Cảnh. Mỗi khi Trần Cảnh đến làm việc thì Chiêu Hoàng mời đến chơi chung. Có khi Cảnh mới bưng thau nước tới, sau khi rửa xong thì Chiêu Hoàng tạt nước vào người Cảnh làm cậu ướt mem! Có khi Cảnh đưa khăn cho Chiêu Hoàng lau, khi lau xong Chiêu Hoàng liệng khăn vào mặt Trần Cảnh. Hai em bé chơi đùa với nhau, nắm tóc nhau, té nước, ném khăn, và họ rất thích nhau.

Năm 1226 người ta sắp đặt một đám cưới giữa hai đứa bé, và Chiêu Hoàng ra một tờ chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Trong một buổi họp triều đình, Chiêu Hoàng cởi áo hoàng bào trao cho Trần Cảnh, rồi người ta đọc lên tờ chiếu của nhà vua, nói rằng trẫm là con gái, không đủ sức đảm đang việc nước, và trẫm thấy Trần Cảnh là một người rất tài năng, rất đức độ, vì vậy trẫm muốn nhường ngôi lại cho Trần Cảnh. Cố nhiên văn bản này là của người lớn viết!

Cho nên từ năm 1226 Chiêu Hoàng chuyển sang làm hoàng hậu, Trần Cảnh lên ngôi vua, và nhà Lý đổi sang nhà Trần.

Trần Thủ Độ, chú của Trần Cảnh được đưa lên chức Thái Sư Thống Quốc Hành Quân Vụ Chinh Thảo Sự, tức là lo quyền bính của quân đội để dẹp loạn ở trong xứ. Tại vì cuối đời nhà Lý giặc giã nổi lên đánh phá khắp nơi, và Trần Thủ Độ lại có khả năng đánh dẹp, cho nên giao cho Trần Thủ Độ làm thái sư thống lĩnh quân đội để chinh phạt, diệt trừ những cuộc nội loạn ở trong nước. Trong khi Trần Thủ Độ đi khỏi thì ở nhà Trần Thừa phải ngồi một bên vị vua trẻ trong những lần họp triều đình, nghe việc chính sự, cho ý kiến, và quyết định.

Trần Thủ Độ đã thành công trong việc đánh dẹp những đám giặc như Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng, và giặc ở các vùng rừng núi.

Tháng 8 năm đó một hôm đi chinh phạt về, Trần Thủ Độ đi vào chùa Thiên Giáo và thấy Huệ Quang Đại Sư đang nhổ cỏ ở trước sân chùa. Huệ Quang Đại Sư tức là Lý Huệ Tông ngày xưa, cha của Chiêu Hoàng. Khi thấy, Trần Thủ Độ nói: Thầy nhổ cỏ thì phải nhổ cho tận gốc, đừng nhổ khơi khơi! Lý Huệ Tông ngẩng mặt lên nói: Ta hiểu ngươi muốn gì, ta sẽ tự xử. Đó là vì tuy nhà Trần đang thay nhà Lý, nhưng gia đình hoàng gia nhà Lý còn rất mong mỏi khôi phục lại được quyền bính. Dân chúng thì vẫn thương nhà Lý vô cùng vì nhà Lý đã đem lại mấy trăm năm hạnh phúc cho dân. Cho nên Trần Thủ Độ nghĩ rằng cơ nghiệp của nhà Trần có thể bị sụp đổ nếu không diệt trừ hết những mầm mống của sự nổi loạn. Do đó ông muốn vua Lý Huệ Tông tự tử!

Sau khi trả lời Trần Thủ Độ, vua Lý Huệ Tông vào chùa, tụng một thời kinh rồi lấy một giải lụa treo cổ tự tử! Sau khi Lý Huệ Tông chết rồi, Trần Thủ Độ tổ chức đám ma, nhưng không dám rước đám ma đi ra thành phố ở phía Nam, sợ quần chúng nổi loạn, nên đã cho phá thủng một bức tường để đám ma đi về phía phường Yên Hoa để làm lễ hỏa thiêu. Sau đó đưa Xá Lợi về thờ ở tháp thuộc chùa Bảo Quang.

Như vậy là người ta đã bức tử Lý Huệ Tông để cho dân chúng trong nước không còn mơ tưởng chuyện vua trở lại ngôi vị ngày xưa. Trong khi đó thì Huệ Hậu, tức là vợ trước của vua Lý Huệ Tông, bị giáng xuống làm Thiên Cực Công chúa, rồi đem gả cho Trần Thủ Độ! Huệ Hậu là cô gái đẹp ngày xưa mà hoàng tử đã gặp ở ven biển trong một lần chạy loạn.

Tất cả các nàng thiếu nữ thân thích và con cháu của họ Lý đều đem gả hết cho các tù trưởng khắp nơi ở miền núi, không để người nào ở lại trong cung, tại vì con gái cũng có thể âm mưu phản loạn! Cố nhiên trong lúc đó thì Trần Thừa, cha của Trần Cảnh lên nhiếp chính, nghĩa là chính thức lo việc nước. Sau đó không lâu thì Liễu, anh ruột của Cảnh cưới người chị của Chiêu Hoàng là công chúa Thuận Thiên, cũng do sự sắp đặt của Trần Thủ Độ. Hai anh em ruột cưới hai chị em ruột.

Năm 1234 thì Liễu được đưa vào làm phụ chính, tức là phụ cho vua về chính trị, và được phong làm Hiển Hoàng.

Nhưng chúng ta đã biết Liễu đạo đức không bằng Cảnh. Hai năm sau thì Liễu đã làm một lỗi khá nặng. Đó là một hôm Liễu đã hiếp dâm một cung nữ ở trong cung Lệ Thiên, và bị các quan đưa ra hạch tội. Vì vậy cho nên tước Hiển Hoàng của Liễu bị truất bỏ và cung Lệ Thiên bị đổi tên là cung Thưởng Xuân vào năm 1236.

Năm 1237 một biến cố lớn xảy ra cho Trần Thái Tông, tức là Trần Cảnh: Nhà vua bị ép phải bỏ công chúa Chiêu Thánh! Lúc đó vua vừa được 20 tuổi. Hoàng hậu Chiêu Thánh cũng vừa mới 19 tuổi thôi, nhưng bị chê là già quá! Lý do là đến tuổi đó mà nàng chưa sinh được hoàng tử. Nếu hồi đó Chiêu Thánh sinh được một người con trai thì địa vị của Chiêu Thánh sẽ vững vàng vô cùng, tại vì người ta thấy nhà Trần có sự tiếp nối, gây niềm tin cho thiên hạ. Nhưng vì Chiêu Thánh tới 19 tuổi mà vẫn chưa có con, cho nên Trần Thủ Độ ép Trần Cảnh phải bỏ Chiêu Hoàng để cưới người chị của Chiêu Hoàng, lúc đó đang có thai với Trần Liễu, tức là bắt cưới vợ của anh, vì vợ của anh đã có thai rồi! Người ta thấy cưới như vậy thì chỉ nội trong vài tháng là có thể sinh ra một đứa con và bảo đảm được sự tiếp nối của nhà Trần!

Chúng ta thấy trong đầu của Trần Thủ Độ có một mưu tính là làm thế nào để cho nhà Trần có sự tiếp nối.

Từ trước tới nay Cảnh đã nghe lời chú rất nhiều. Có nhiều việc rất đau lòng, nhưng Cảnh đã nghe lời, nhưng đến đây thì Cảnh không thể nào nghe lời được nữa, tại vì đây là một hành động quá sức tưởng tượng, và một người con trai như Cảnh thì không thể nào chấp nhận được!

Lúc đó Thuận Thiên mới có thai chừng ba tháng thôi, nhưng có thai là một tin rất mừng và Trần Thủ Độ nghĩ rằng có thể đó là một đứa con trai. Nếu cưới người này thì chắc chắn là vua sẽ có hoàng tử dù không phải là con của mình. Con của người anh thì cũng là con của nhà Trần. Vua Trần Thái Tông phản đối kịch liệt về chuyện bị ép buộc phải bỏ người yêu để cưới người vợ đã có thai của anh ruột mình. Nhưng lúc đó Trần Thủ Độ uy quyền lớn quá, còn vua thì không có thế lực nào cả, cho nên nhà vua không thể nào ngăn được người chú nhiều mưu chước của mình!

Rốt cuộc thì Chiêu Thánh từ hoàng hậu bị giáng xuống làm công chúa, và công chúa Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu thì được lập làm hoàng hậu! Sự phẫn uất của vua lớn quá, mà sự phẫn uất của Trần Liễu cũng rất lớn. Tự nhiên mình bị mất vợ, cho nên Trần Liễu nổi loạn, huy động thủy quân, tập hợp tại một căn cứ để chống lại triều đình.

Trong tình trạng đó, vua Trần Thái Tông cảm thấy đau xót, một mặt mình bị ép phải bỏ người yêu, một mặt phải cưới người vợ của anh ruột mình, cho nên Trần Thái Tông ban đêm bỏ cung điện, tìm lên núi Yên Tử, vì trên đó có một thầy mà vua Trần Thái Tông rất thương kính. Nhà vua muốn lên đó để tránh cuộc đời đầy phiền não, đầy khổ đau, rắc rối. Muốn trở thành một người xuất gia để sống an lành, thanh tịnh, thảnh thơi hơn. Làm một nhà chính trị thì cực tâm cực trí quá, chi bằng làm một nhà tu thì thanh thản, khỏe khoắn hơn.

Vào lúc 10 giờ đêm ngày mồng Ba tháng Tư năm đó, vua đem theo 7, 8 người tùy tùng, đi bằng ngựa tìm đường lên núi. Nhưng vua nói với đám tùy tùng rằng vua muốn đi để nghe dư luận trong nhân gian, để thật sự biết được lòng dân, để dễ bề trị nước.

Đoàn người đi về phía Đông, và khi sang bên kia sông thì nhà vua mới nói rõ ý định của mình cho những người tùy tùng biết: Trẫm không muốn làm vua nữa, trẫm muốn đi tu, các khanh trở về đi! Lúc đó ai nấy đều ngạc nhiên và van xin thảm thiết. Nhưng chí nhà vua đã quyết!

Khoảng 6 giờ sáng hôm đó thì vua đến bến đò Đại Tha, ở núi Phả lại. Lúc đó trời đã sáng, sợ người ta nhận ra mình, cho nên vua mới lấy vạt áo, khoác lên che mặt để qua đò, rồi theo lối tắt mà leo lên núi Yên Tử. Tối hôm đó vua vào nghĩ trong chùa Giác Hạnh, đợi đến sáng lại đi. Chật vật trèo núi, lội suối, con ngựa đã yếu, không thể lên núi được nữa, cho nên vua phải bỏ ngựa, vin vào các tảng đá mà leo lên. Sáng hôm sau, vua leo tới đỉnh núi và đi vào tham kiến vị đại sa môn trên núi Yên Tử tên là Trúc Lâm.

Khi gặp thầy Trúc Lâm thì thầy nói rằng: Tôi sống ở trong núi đã lâu rồi, ở đây rất là thanh đạm, chỉ ăn rau núi, hạt dẽ, uống nước suối, sống rất thanh thản. Bệ hạ tại sao lại có thì giờ mà lên đây? Bệ hạ có cần gì không mà phải lên đến đây? Vua vừa khóc vừa nói rằng: Con đang còn thơ ấu lắm, mẹ cha đã mất rồi, một mình đứng làm vua ở trên muôn dân không chỗ nào để nương tựa cả. Con nghĩ rằng cuộc đời là vô thường, ngay cả sự nghiệp của Đế vương cũng là vô thường, không còn nghĩa lý gì, cho nên con mới có ý định bỏ ngai vàng, tìm tới để cầu được tu hành thành Phật chứ không còn cầu gì khác nữa. Vua đã không nói hết sự thật! Đây là những điều mà chính tay vua đã ghi chép lại trong bài tựa mà vua đã viết cho một cuốn sách do vua sáng tác vào năm vua 31 tuổi. Đó là cuốn Thiền Tông Chỉ Nam.

Trong bài tựa này vua kể lại chuyện leo lên núi và gặp thầy Trúc Lâm. Khi thầy hỏi vua lên núi để tìm gì, thì vua nói con muốn tìm Phật. Thầy nói trong núi làm gì có Phật? Phật ở trong tâm của mình, nếu tâm mình lắng lại, có định thì tự nhiên có trí tuệ, và trí tuệ đó là Bụt rồi. Nếu mình tu học mà có định, có tuệ thì Bụt ở ngay trong lòng của mình, không cần phải lên núi mới tìm được.

Hai thầy trò đàm luận với nhau về chuyện tu hành, và đêm đó hai người rất có hạnh phúc. Vua cảm thấy xa lánh được tất cả tình trạng khổ đau, nhiêu khê, rắc rối, nát tan trong lòng của mình. Được ngồi trên núi với thầy, nhà vua rất ao ước có thể ở lại với thầy suốt đời, không còn muốn xuống núi nữa!

Nhưng ngày hôm sau thì Trần Thủ Độ đã tìm ra được chỗ vua trốn. Cùng với các quan và một số quân lính lên gặp nhà vua, ông nói:

–   Tâu bệ hạ, xin bệ hạ chuẩn bị để về kinh đô. Vua nói:

–   Trẫm còn trẻ tuổi lắm, mà công việc thì bề bộn, thân phụ trẫm đã lìa bỏ trẫm, giờ trẫm không có chỗ trông cậy, trẫm không có tài năng gì hết, không dám ở lại ngôi vua mà làm nhục cho đất nước.

Trần Thủ Độ năn nỉ hai ba lần mà vua vẫn không chịu về. Lúc đó Thủ Độ mới lên giọng nói với tất cả mọi người:

–   Theo nguyên tắc, vua ở đâu thì mình phải lập cung điện và triều đình ở đó. Và Thủ Độ ra lệnh chỗ này mình phải làm điện Thiên An, chỗ kia làm gác Đoan Minh, chỗ này xây thành trì, chỗ kia xây hồ.

Khi thiền sư Trúc Lâm nghe như vậy, thiền sư bèn đến chấp tay trước vua và nói: Xin bệ hạ hãy về gấp kinh sư, chớ để làm hại tới núi rừng của lão tăng. Lúc đó Trần Thủ Độ và các quan mới tới năn nỉ rằng nếu vua không về thì đất nước sẽ tan nát hết, người nào cũng khóc, cũng năn nỉ để cho vua trở về kinh đô. Lúc đó Trần Thái Tông mới đến với thầy Trúc Lâm, kể lại tất cả những điều đau khổ của mình. Thầy mới cầm tay vua và nói rằng:

–   Khi đã làm vua thì mình đâu còn được theo ý thích riêng của mình, mình phải lấy ý thích của thiên hạ làm ý thích của mình. Giờ đây tất cả dân chúng muốn bệ hạ về kinh đô thì làm sao bệ hạ không về được?

Đây là một câu dạy rất quan trọng của thiền sư Trúc Lâm: “Khi đã làm vua, thì mình không thể theo ý thích riêng của mình được nữa, mình phải lấy ý thích của nhân dân làm ý thích của mình. Và ý thích của nhân dân là vua phải về, thì chắc chắn vua phải về chứ đâu còn làm ngược lại được nữa?”

Mình đã lỡ làm vua rồi! Giống như khi mình đi tu rồi thì mình đâu có theo ý thích riêng của mình được nữa, mình phải theo ý thích của lý tưởng người tu. Mà lý tưởng của người tu là đi về hướng đó thì mình đâu đi về hướng khác được? Mình phải đi về hướng đó! Đi về cho mình và cho tất cả mọi người.

Thiền sư Trúc Lâm còn nói thêm một câu nữa:

–   Tuy nhiên trong khi làm vua, bệ hạ vẫn có thể tu và học được như thường. Vì vậy cho nên sự nghiên cứu về nội điển và sự tu tập hàng ngày, bệ hạ đừng bao giờ quên lãng.

Câu nói đó của thiền sư đã in sâu vào trong tim của Trần Thái Tông. Cho nên từ khi về lại kinh đô, Thái Tông bắt đầu nghiên cứu kinh điển và tu học rất tinh chuyên từ năm 21 tuổi. Tới năm vua 31 tuổi, vua đã viết tác phẩm đầu tiên của mình là Thiền Tông Chỉ Nam, Guide to Buddhist Meditation. Sau đó nhà vua lại sáng tác thêm những tác phẩm khác nữa, và một số còn được giữ lại cho tới ngày nay.

Công Phu Tu Học Của Trần Thái Tông

Vào khoảng mười mấy năm sau, một hôm Trúc Lâm Thiền Sư về kinh đô để thăm. Vua đem bản thảo của tập Thiền Tông Chỉ Nam trình lên thầy:

–   Con đã thực tập, con đã nghiên cứu và con đã viết ra tác phẩm này để cho chính con thực tập và con có ý định chia sẻ với những người quen biết. Xin thầy xem thử tác phẩm này của con có giá trị gì về nội điển và về thực tập hay không? Thiền sư cầm lấy tác phẩm và đọc. Sau khi đọc xong, thiền sư Trúc Lâm nói rằng:

–   Trái tim của chư Bụt nằm ở trong cuốn sách này, tại sao bệ hạ không cho khắc và in ra để cho quần chúng được học hỏi và tu tập?

“Tim của chư Bụt phó mặc ở trong cuốn sách này”. Đó là lời của Trúc Lâm Đại Sư.

Cuốn sách mà chúng ta biên tập về khóa Phật Pháp Căn Bản tại Làng Mai trước đây, đã lấy tên là Trái Tim Của Bụt, là không phải tự nhiên mà chúng ta lấy tên đó. Chúng ta lấy tên đó là vì ngày xưa đã có các chữ đó ở trong bài tựa cuốn Thiền Tông Chỉ Nam của vua Trần Thái Tông.

Nên nhớ rằng Trần Thái Tông không phải chỉ là một nhà Phật học. Ngài còn là một nhà hành trì. Đâu phải nhà vua chỉ được học Phật học, vua còn phải học Nho học nữa, tại vì hồi đó Nho học là một môn học chính trị. Mình là một nhà chính trị thì mình phải đọc sách Nho, và phải đem Nho học và Phật học của mình áp dụng trong đời sống hàng ngày. Trong những tác phẩm mà Trần Thái Tông lưu lại, có tác phẩm Kim Cương Tam Muội Kinh Tựa, tức là bài tựa của kinh Kim Cương Tam Muội.

Nói về sự học hỏi của mình, Trần Thái Tông viết: Trẫm lo việc chăn dân (Chăn dân tức là cai trị) mỗi lúc gian nan, thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều (thì giờ thì rất ít, công việc chánh trị trong nước thì rất nhiều). Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, trẫm cố học hành thêm. Ý nghĩa thì chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm đến giờ khuya mà vẫn còn phải thức để đọc sách. Đọc sách Nho xong rồi còn đọc kinh Phật!

Đôi khi nhà vua phải đích thân cầm quân đi dẹp loạn ở biên giới, chứ không phải chỉ ở kinh đô để ra lệnh. Bao nhiêu là công việc, thì giờ không có nhiều nhưng vua vẫn tìm ra thì giờ, thức sâu trong đêm khuya để có thì giờ học hỏi và hành trì.

Nhà Vua Và Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi

Trong những tác phẩm của vua để lại, có một tác phẩm gọi là Lục thời Sám Hối Khoa Nghi tức là một nghi thức sám hối mà chính vua sáng tác để thực tập. Một ngày 24 giờ đồng hồ, vua làm lễ sám hối 6 lần. Sám hối là một phương pháp thực tập rất căn bản của nhà vua, tại vua có mặc cảm là mình đã gây ra những tội lỗi. Vua mặc cảm đã bị ép buộc cướp ngôi của nhà Lý, mặc cảm đã giáng Chiêu Hoàng xuống làm công chúa, mặc cảm phải cưới người vợ đã có thai của anh mình v.v… Những mặc cảm đó dày vò, chúng trở thành những khối nội kết rất lớn của vua. Tuy rằng vua không có ý định làm những việc đó, nhưng vua đã bị bắt buộc làm những chuyện đó. Vua đã bị đặt vào một hoàn cảnh phải làm những chuyện đó, vì vậy cho nên vua rất đau khổ.

Có lẽ hồi đó nếu vua được xuất gia với thiền sư Trúc Lâm ở trên núi Yên Tử thì vua cũng sám hối như vậy chứ không phải là về kinh đô để làm vua thì vua mới có cái mặc cảm đó. Cho nên vua đã sáng tác ra tác phẩm Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi để tự mình thực tập.

Buổi khuya vua thực tập một thời sám hối. Rồi sau đó mỗi 4 tiếng đồng hồ thì thực tập một thời sám hối nữa. Ngày chia làm sáu thời (trú dạ lục thời), mỗi thời 15 phút. Cứ như vậy từ tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác.

Nghi thức sám hối của vua Trần Thái Tông còn được truyền lại cho đến ngày nay. Nghi thức đó đã được dịch ra tiếng Việt nhiều lần, và hiện giờ tại tu viện Trúc Lâm ở Đà Lạt, thầy Thanh Từ đã cho thiền sinh thực tập sám hối theo nghi thức này của vua Trần Thái Tông.

Văn chương của Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi rất là diễm tình, nhưng không hời hợt, không rườm rà. Trong mỗi nghi thức sám hối như vậy có một bài kệ dâng hương, một bài kệ dâng hoa, một bài kệ trần bạch có tác dụng thức tỉnh, một bài kệ sám hối, một bài kệ cung thỉnh, một bài tùy hỷ, một bài kệ hồi hướng, một bài kệ phát nguyện, và cuối cùng là một bài kệ vô thường. Tất cả các bài đó đều có thể thực tập trong vòng 15 phút.

Vua thức dậy vào giữa giờ Dần[1], tức là khoảng 4 giờ sáng. Sau khi rửa mặt súc miệng xong thì vua thực tập thời sám hối đầu tiên trong ngày, gọi là thời sám hối giờ Dần. Thời sám hối này mở đầu bằng bài kệ “Cảnh sách giờ Dần”, dịch tiếng Việt như sau:

Ánh dương vừa mới hé, Mặt đất tối rạng dần, Ý xôn xao trổi dậy, Hình tranh nhau phân vân. Đừng ôm xác chết nữa, Ngửng đầu lên thiên chân, Siêng năng trong sáu niệm, Mới khế ngộ cơ thần.

Ánh dương vừa mới hé – Mặt đất tối rạng dần – Ý xôn sao trổi dậy – Hình tranh nhau phân vân. Ý tức là ý của mình, hình tức là đối tượng của ý.

Đừng ôm xác chết nữa – Ngửng đầu lên thiên chân, tức là những người không siêng năng thì hay ôm xác chết của mình, sống như những người chết.

Siêng năng trong sáu niệm – Mới khế ngộ cơ thần. Phải siêng năng tu tập mới mong thành đạt.

Vua đọc bài đó như là một tiếng chuông cảnh tỉnh rồi mới làm lễ chúc hương buổi sáng. Văn rất hay, đây chỉ là bản dịch mà thôi. Nếu quý vị muốn có bản chính thì tìm đọc trong cuốn Thi Văn Lý Trần[1].

Bài “Chúc hương buổi sáng” như sau:

Phục dĩ: bóng thỏ đã về Tây, vầng ô đã rạng chiếu nơi chiếu Phạn, họp muôn dòng Thanh tịnh, trên cõi Không lễ các bậc Thánh hiền, Muốn gởi tin bằng gỗ chiên đàn, phải kính đốt xông loài hương báu, Hương này, trồng từ vườn Giới Luật, tưới bằng nước Thiền định, chặt trong vườn trí tuệ, đẻo bằng đao giải thoát. Hương không dùng rìu búa, sức người mà hình thể từ thiên nhiên tự kết. Đốt nén bảo hương Tri Kiến, kết thành đài mây Quang Minh. Lúc hương xông khắp chốn thơm tho, nơi khói tỏa đầy trời ngào ngạt. Nay nhân buổi sớm, con xin đốt hương cúng dường.

Văn rất hay!

Quý vị đã nghe bài pháp thoại về Giáng Kiều và Tú Uyên, trong đó chúng ta đã nói đến sự đưa tin bằng cách đốt hương. Tú Uyên đốt hương thì Giáng Kiều biết, Muốn gởi tin bằng gỗ chiên đàn, phải kính đốt xông bằng loài hương báu. Muốn có sự cảm thông với chư Bụt và chư Bồ Tát thì phải dùng một phương pháp truyền thông gọi là đốt hương. Khi mình muốn có sự cảm thông với ông bà, với cha mẹ, với các bậc thánh hiền, thì mình cũng phải đốt hương. Dùng sự đốt hương để làm phương tiện truyền thông, cũng như ngày nay người ta dùng telephone vậy. Nhưng nhang này không thể là nhang trầm được. Nhang này phải là nén nhang của lòng gọi là tâm hương. Muốn gởi tin bằng gỗ chiên đàn, Thì phải kính đốt xông loài hương báu. Hương báu tức là thứ hương quý báu nhất. Hương quý báu nhất mà con muốn dâng lên chư Bụt, hương này trồng từ vườn giới luật, tưới bằng nước thiền định, chặt trong vườn trí tuệ, đẽo bằng đao giải thoát. Chỉ có hương đó thì mới có thể giúp ta truyền thông với Bụt với Bồ tát được mà thôi.

Chúng ta biết Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Hương giải thoát và Hương giải thoát tri kiến là năm thứ hương để dâng lên Bụt, gọi là tâm hương. Ở đây ý đó được diễn tả bằng những hình ảnh rất đẹp: Hương này trồng từ vườn giới luật, tưới bằng nước thiền định, chặt trong vườn trí tuệ, đẽo bằng đao giải thoát … Đốt nén bảo hương tri kiến, kết thành đài mây quang minh. Lúc hương xông khắp chốn thơm tho, Nơi khói tỏa đầy trời ngào ngạt, Nay nhân buổi sớm, Con xin đốt hương cúng dường.

Kế đó đến bài “Kệ Dâng Hương”:

Ngào ngạt trầm hương rừng Chánh Định, Chiên đàn vườn Tuệ đã vun trồng, Giới đao đẽo gọt nên hình núi, Đốt tại lò Tâm để hiến dâng.

Hương mà phải đốt tại lò tâm mới được. Rồi tới bài “Kệ Dâng Hoa”:

Hoa nở rạng ngời trên đất Tâm, Hoa tiên rải xuống chẳng thơm bằng, Hái dâng từng đóa lên chư Bụt,Gió Nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.

Hoa nở rạng ngời trên đất tâm, chúng ta có một bài thi kệ cũng mang hình ảnh đó (Hoa nở tự vườn tâm), đó là câu trong bài kệ đánh răng của chúng ta:

Đánh răng và súc miệng Cho sạch nghiệp nói năng. Miệng thơm lời chánh ngữ Hoa nở tự vườn tâm.

Khi làm bài đó, tôi đâu có biết rằng mình đang lặp lại câu của một vị tổ sư ngày xưa là Trần Thái Tông! Không biết, nhưng vì trong máu, trong huyết mình nó đã có chất liệu của tổ tiên rồi, cho nên nói ra mình tưởng là mình nói, nhưng kỳ thật đó là tổ tiên của mình đang nói.

Hoa nở sáng ngời trên đất tâm, Hoa tiên rải xuống chẳng thơm bằng, Hái dâng từng đóa lên chư Bụt, Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.

Đây là bản dịch tác phẩm Khoa nghi của Trần Thái Tông, do dịch giả Thiều Chửu dịch. Thiều Chửu là thầy của sư bà Đàm Ánh, và hôm nay sư bà hiện đang có mặt tại đây. Đây là một trong những bản dịch xưa nhất, đã từng đăng ở báo Đuốc Tuệ vào khoảng năm 1936, 37, 38.

Sau bài kệ Cảnh Sách, đến bài Lễ Chúc Hương, rồi tới bài Kệ Dâng Hương, bài Kệ Dâng Hoa, sau đó đến bài Khải Bạch. Chúng ta đọc một đoạn trong Khải Bạch tức là những lời mình trình lên Bụt.

Đây là bài Khải Bạch Buổi Sáng do Thiều Chửu dịch:

Kính tâu Đại giác thập phương, hùng sư tam thế. Đường tối tăm giong Đuốc Tuệ soi, bể khổ sở thả buồm từ chở. Trộm nghe canh gà vừa dứt, bóng thỏ mới mở. Mây khói tỏa non sông nghi ngút, ngựa xe đường sau trước ruổi rong. Tiếng mai-hòa trên lầu mới dứt, chén trúc-diệp trước cửa hồ phai. Lơ thơ mày liễu ánh màu hồng, lóng lánh mặt hoa nhuần hạt móc. Giầy đang sáng sớm, thương kẻ u mê. Trong đêm hồn mộng đã mơ màng, tỉnh dậy tâm dầu còn bối rối. Mắt tai mải theo thanh sắc, mũi lưỡi say đắm vị hương. Nhà cháy thiêu đốt luôn luôn, sông yêu đắm chìm mãi mãi. Tuy đã dậy nằm khi buổi sớm, còn như mê ngủ lúc ban đêm. Chẳng lo già ốm chết theo, chi bận vợ con tiền của.

Các con Phật ơi! Gốc thân chẳng vững, cỗi mệnh khôn yên.

Hết thảy các giống đội trời, khó thoát tinh mắt lạc xuống đất. Một mai lỡ xẩy tay, muôn kiếp khó lại được. Mau mau nên đấm lấy mầm lành, xa xả chớ chăm tìm quả ác. Người đều kịp tỉnh, ai nấy chăm tu. Dốc lòng lễ vô thượng từ dung, chạm mắt thấy đại – quang minh-tạng. Bọn chúng con kinh tưởng lấy giờ này, định làm buổi lễ sáng sớm.

Sau bài Khải Bạch, tới bài Sám Hối những tội lỗi do nhãn căn tạo ra. Lục thời Sám Hối Khoa Nghi là sáu nghi lễ sám hối. Nghi lễ đầu liên hệ tới mắt. Nghi lễ thứ hai liên hệ tới tai. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Mỗi ngày vua đều làm lễ sám hối để thực tập pháp môn mà Bụt gọi là Hộ Trì Sáu Căn.

Chúng ta hiện có những sử liệu rất chính xác về giáo điển của vua Trần Thái Tông. Chúng ta cần phải học cho kỹ để thấy cha ông ngày xưa của chúng ta tu học như thế nào. Cái học rất sâu, cái tu rất vững. Chúng ta cứ tưởng tượng một ông vua phải làm bao nhiêu công việc chính trị. Vừa học Phật, mà phải vừa học Nho. Trong lúc đó lại cố gắng đem đạo Bụt áp dụng vào đời sống hàng ngày, và thực tập sáu thời sám hối trong một ngày. Như vậy nhà vua là một người có nhu yếu tinh chuyên, thực tập rất là tinh tấn.

Chúng ta sẽ trở lại với tư tưởng và sự hành trì của vua Trần Thái Tông.

Năm 1237 tức là năm nhà vua bị ép lấy công chúa Thuận Thiên, vợ của người anh, và cũng là năm mà vua trốn lên núi để làm thầy tu nhưng bị kéo về, thì Thuận Thiên sinh một bé trai tên là Trần Hoảng, đó là con của người anh ruột của vua. Sau này Trần Hoảng lên ngôi, hiệu là Trần Thánh Tông. Đến năm 1241 thì Thuận Thiên sinh thêm một người con trai khác tên là Trần Quang Khải, em cùng mẹ khác cha với Hoảng. Về sau được phong làm Thượng tướng Trần Quang Khải, người đã sát cánh với Hưng Đạo Đại Vương trong việc đánh bại quân Mông Cổ. Năm 1248 thì hoàng hậu Thuận Thiên băng, lúc đó hoàng hậu mới có 33 tuổi.

Năm 1258 thì vua gả công chúa Chiêu Thánh, tức là vợ cũ của vua cho Lê Phụ Trần, một tướng rất giỏi, và là một vị phụ tá rất giỏi của vua, đã đi sát với vua như là một người tri kỷ, có thể gọi là người bạn thân thích nhất của vua, vào sinh ra tử với vua. Cảm vì tình bạn đó cho nên vua đã gả người yêu cũ của mình cho Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần được đưa lên chức Ngự Sử Đại Phu. Lúc đó vua được 41 tuổi. Năm 1264 thì Trần Thủ Độ qua đời.

Sau này Lê Phụ Trần được đưa vào trong cung để dạy các hoàng tử. Vua tịch năm 1277, lúc ngài 60 tuổi, và công chúa Chiêu Thánh, người yêu cũ của vua tịch vào năm sau đó, 1278.

Khi làm vợ của Lê Phụ Trần, Chiêu Thánh đã sinh được một đứa con trai và một đứa con gái. Trần Thủ Độ hấp tấp quá, nếu cứ để thong thả thì thế nào cũng sinh cho vua Thái Tông một trai và một gái. Đứa con trai tên là Tông và đứa con gái tên là Khuê. Con trai là Thượng Vị Hầu Tông, và con gái là Ứng Thị Công Chúa Khuê. Chiêu Thánh sống lâu hơn chị, bà mất năm 61 tuổi.

Sau này chúng ta sẽ học kỹ hơn, đi sâu vào chi tiết của những tư tưởng và phương pháp hành trì của Trần Thái Tông. Ở đây chúng ta biết rằng trong cung của vua có hai ngôi chùa, một tên là chùa Chân Giáo, và một là chùa Phổ Minh. Nhưng vua Trần Thái Tông không muốn đến chùa Chân Giáo để ngồi thiền, để thực tập, để sám hối. Tại vì bên đó đã xảy ra một bi kịch, là vua Lý Huệ Tông, tức Huệ Quang Đại Sư đã tự tử tại đó, và trong lòng của ông vua trẻ còn có mặc cảm tội lỗi. Đó là vì mình, vì dòng họ của mình, vì chú họ của mình mà Huệ Quang Đại Sư đã tự tử ở bên chùa đó. Cho nên ông vua trẻ không muốn qua chùa Chân Giáo để ngồi thiền hay để thực tập. Vua chỉ sang chùa Phổ Minh để tu học.

Chúng ta nên biết rằng vua không đợi tới lúc lớn tuổi, làm Thái Thượng Hoàng rồi mới đi thực tập. Từ năm 20 tuổi khi có một niềm đau khổ, xót xa ở trong lòng thì vua đã rất tinh chuyên thực tập, nhất là thực tập theo phương pháp Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi. Mỗi ngày thực tập 6 lần. Bắt đầu thực tập về những sự làm mới, về cách sử dụng con mắt của mình, tại con mắt của mình là một đại dương.

Qua con mắt mình có thể tiếp xúc được với những cái mầu nhiệm của sự sống, nhưng mình cũng có thể đắm chìm trong biển hình sắc mông mênh. Sống trong cung có những hình ảnh có thể làm đắm chìm mình, vua ý thức được như vậy, cho nên vua sám hối về những lỗi lầm phát sinh từ sự thiếu chánh niệm về con mắt. Cho nên thời sám hối đầu tiên là sám hối Nhãn căn tội, tức là sám hối về những cái lầm lỗi do con mắt gây ra.

Gốc Rễ Tu Học Của Vua Trần Thái Tông

Ông vua trẻ đó đã thực tập với ai, dưới sự hướng dẫn của vị thầy nào? Chúng ta biết rằng sau này vua có lập nên một viện gọi là Viện Tả Nhai. Chùa Chân Giáo là chùa vua không muốn tới nhiều, chùa Phổ Minh là chùa vua thường tới. Viện Tả Nhai chắc hẳn là nằm bên tay trái của cung điện, nơi vua thường đến để thực tập, và nhất là nghiên cứu, học hỏi và pháp đàm. Có thể chùa Phổ Minh không đủ lớn, cho nên vua lập thêm một viện.

Sử sách ghi lại rằng vua thường mời các vị cao đức, các thầy giỏi tới để giảng dạy, chỉ bày sự thực tập cho mình, và cho một số người khác. Họ là những bà con quyến thuộc ở trong hoàng gia.

Cố nhiên vị thầy đầu của vua Trần Thái Tông là thiền sư Trúc Lâm, mà vua tôn làm quốc sư. Quốc sư là thầy của cả nước. Thầy của vua thì cũng là thầy của nước. Đây là vị thầy mà vua đã gặp ở núi Yên Tử, Vị thầy đó vua gọi là Quốc sư Trúc Lâm.

Sau này vua Trần Nhân Tông cũng được gọi là Trúc Lâm Đại Sĩ, nhưng chúng ta đừng lầm Trúc Lâm Đại Sĩ với Quốc sư Trúc Lâm. Trúc Lâm Đại Sĩ là cháu kêu vua Trần Thái Tông bằng ông nội, lúc đó chưa sanh ra.

Muốn đi tìm gốc rễ của nhà vua, trước hết ta phải tìm vị thiền sư ở trên núi Yên Tử, tên là Trúc Lâm. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì nói vị thầy đó tên là thầy Phù Vân, nhưng sợ là không đúng. Trong những lời nói của thiền sư Trúc Lâm có câu: Tôi như là một người không vướng bận, như một đám mây nổi theo gió mà lên đây, còn vua là bậc nhân chủ, không biết vì lý do gì mà cũng leo lên đây? Theo gió mà lên đây như là một đám mây nổi, tức là phù vân. Nhưng thực ra Phù Vân là danh hiệu của một vị tổ sư thuộc phái Trúc Lâm xuất hiện sau này. Thành ra trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói vị quốc sư mà vua Trần Thái Tông lên để tham vấn là Phù Vân Quốc Sư thì sợ là không đúng.

Chúng ta tạm gọi ngài là Trúc Lâm Quốc Sư, đó là theo bài tựa của sách Thiền Tông Chỉ Nam do chính tay vua Trần Thái Tông viết. Vậy thì ngoài Quốc Sư Trúc Lâm, vua còn học với ai nữa? Tại vì Quốc Sư Trúc Lâm ở trên núi Yên Tử, lâu lâu mới về kinh đô một lần. Đó là ông thầy ở trên núi, ông không ưa ở kinh đô.

Trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam, vua Trần Thái Tông có viết rằng sau khi vua đã sáng tác xong tác phẩm Thiền Tông Chỉ Nam thì quốc sư từ trên núi xuống, có ghé vào kinh đô thăm, và vua có đưa bản thảo cho thầy xem. Như ta đã biết trên đây, coi xong thì thầy khen và nói rằng: Tâm của chư Bụt nằm ở trong này, thành ra Bệ hạ nên cho khắc và in ra cho người ta được thừa hưởng.

Đó là một trong những lần ít có xảy ra mà Trúc Lâm Quốc Sư đã xuống núi. Nếu tra cứu thì chúng ta thấy rằng đồng thời với vua, và đang hành đạo tại kinh đô, còn có những thiền sư Tức Lự, Ứng Thuận và Đại Đăng. Tức là những người đang giảng dạy về thiền học tại kinh đô Thăng Long.

Đại Đăng cũng đã được tôn làm quốc sư, nghĩa là một trong những thầy của vua Trần Thái Tông. Theo sách Khóa Hư Lục thì còn có một thầy từ bên Trung quốc qua nữa tên là thầy Thiên Phong. Tất cả những vị đó đã được mời tới viện Tả Nhai để mở những khóa dạy về thiền học và thiền tập cho vua, và cho những người thân thuộc của vua, những bạn bè của vua. Trong sách Thơ Văn Lý Trần tập 2, quyển thượng, của nhà xuất bản Xã Hội ở Hà Nội, in năm 1989, trang 948 có in lại bản Phả hệ dòng thiền Trúc Lâm đời Trần, lấy từ trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, trang 219 (tức Bản đồ II: 23 Vị Tổ sư đầu của Thiền phái Yên Tử).

Chúng ta thấy rằng Đại Đăng không hẳn là thầy của Trần Thái Tông mà là bạn của Trần Thái Tông. Có một thiền sư mà sau này chúng ta sẽ nói tới, đó là thiền sư Thường Chiếu. Thiền sư Thường Chiếu tịch năm 1203, là người thuộc thế hệ Vô Ngôn Thông, nhưng lại trú trì tại một thiền viện thuộc phái Tỳ-Ni Đa – Lưu-Chi.

Thiền sư Thường Chiếu tuy thuộc hệ phái Vô Ngôn Thông, nhưng đã tiếp thu được giáo lý và hành trì của thiền phái Tỳ-Ni Đa-Lưu – Chi, của thiền phái Thảo Đường, và cố nhiên là của những truyền thống đi trước như là truyền thống Tăng Hội, truyền thống Đạt Ma Đề Bà, Huệ Thắng. Thiền sư Thường Chiếu giống như một sự tổng hợp giữa tất cả các dòng thiền đã có tại Đại Việt trước đây, và chính thiền sư Thường Chiếu đã có ba người đệ tử lớn là Hiện Quang, Thông Thiền và Thần Nghi

(Xem Biểu đồ 1)

Tăng Hội                                              Đạt Ma Đề Bà

Thảo Đường                                        Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi

Vô Ngôn Thông                                    Lâm Tế

Thường Chiếu

1. Hiện Quang      Thông Thiền        Thần Nghi

2. Đạo Viên           Tức Lự                Ẩn Không

Thái Tông          3.  Đại Đăng           Ứng Thuận        Thiên Phong

Thánh Tông       4. Tiêu Diêu           Nhất Tông          Giới Minh

Tuệ Trung         5.  Huệ Tuệ

Tông Cảnh        6. Trúc Lâm

7. Pháp Loa           Bảo Phác

8. Huyền Quang[1]

. . . . . . . .

Biểu đồ 1: Gốc rễ tâm linh của Trần Thái Tông

Thiền sư Hiện Quang là người đầu tiên lên khai sơn núi Yên Tử nhưng không có ý muốn lập tông phái. Thiền sư Hiện Quang có một người đệ tử tên là Đạo Viên. Có thể gần như là chắc chắn rằng chính vị đệ tử đó là vị thiền sư mà vua Trần Thái Tông đã lên gặp ở núi Yên Tử, và đã tôn làm Quốc Sư. Trong khi đó thì thiền sư Thông Thiền có một người đệ tử là Tức Lự đang hành đạo và dạy dỗ ở kinh đô. Thiền sư Tức Lự lại có một vị đệ tử khác rất giỏi, là Ứng Thuận cũng đang dạy tại kinh đô Thăng Long.

Như vậy Đạo Viên thiền sư là thầy của Trần Thái Tông, đồng thời cũng là thầy của một vị cao tăng khác, tuy chúng ta có tên nhưng lại không có một tài liệu nào nói về tư tưởng và lịch sử của ngài cả. Vị đó cũng là một quốc sư tên là Đại Đăng. Còn thiền sư Thiên Phong là một thầy từ nước ngoài tới, thường được vua Thái Tông mời vào viện Tả Nhai để giảng bày thiền học và hướng dẫn cách tu thiền theo phương pháp Lâm Tế. Thiên Phong là một trong những người truyền thiền phái Lâm Tế vào Đại Việt sớm nhất. Thiên Phong đã truyền giáo lý Lâm Tế lại cho Đại Đăng và cho Thái Tông.

Theo tài liệu mà hiện chúng ta đang có thì Thiền Lâm Tế được thâm nhập vào Việt Nam một cách vững chãi, sâu sắc là từ thời Trần Thái Tông. Trần Thái Tông là người đầu tiên sáng tác Niên Tụng Kệ, sử dụng công án theo kiểu tụng cổ. Tụng cổ tức là dùng những bài kệ với mục đích làm sáng tỏ ý của cổ nhân. Thiền sư Ứng Thuận sau này có một người đệ tử tên là Nhất Tông, một cái tên rất hay! Và Nhất Tông cũng là một vị quốc sư.

Điều chúng ta nên nói là lúc bấy giờ, trước thiền phái Vô Ngôn Thông chúng ta có 5 thiền phái. Thiền phái đầu là thiền phái Tăng Hội, thứ hai là Đạt Ma Đề Bà và Huệ Khả, thứ ba là Tỳ-Ni Đa – Lưu-Chi, thứ tư là Thảo Đường, và thứ năm là Vô Ngôn Thông. Thiền sư Thường Chiếu là điểm quy tụ tinh hoa của tất cả năm thiền phái đó. Vì vậy cho nên truyền thừa của Thường Chiếu có tính cách thống nhất, không chia ra từng tông phái nữa. Như vậy khuynh hướng đưa tới Phật Giáo Thống Nhất bắt đầu từ Thường Chiếu.

Sau Thái Tông chúng ta có Tuệ Trung, có Nhân Tông. Nhân Tông chính thức thành lập phái Yên Tử và lúc đó có một vị quốc sư tại Đại Việt tên là Nhất Tông Quốc Sư. Tên Nhất Tông rất có ý nghĩa, tức là Phật giáo một tông phái thôi. Như vậy năm tông phái có trước đó, bây giờ được thống nhất lại trong một giáo hội duy nhất gọi là Giáo Hội Trúc Lâm.

Giáo hội Trúc Lâm là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã có mặt tại Đại Việt từ thế kỷ thứ 13, 14. Khuynh hướng thống nhất Phật giáo, không chia tông phái mà thu góp tất cả tinh hoa của các tông phái lại để cùng thực tập với nhau. Như vậy khuynh hướng này đã có từ cuối đời Lý, đầu đời Trần. Điều đó thành tựu một cách rất đẹp đẽ, đầy ý nghĩa, nhờ sự có mặt của một vị quốc sư tên là Nhất Tông.

Vấn đề thống nhất là vấn đề muôn đời. Thống nhất đó rồi chia rẽ đó. Chia rẽ xong rồi lại thống nhất. Ngày nay ngay ở đất nước chúng ta cũng còn nhiều công việc như vậy. Nếu mình biết được ý của chư tổ thì mình biết mình cần phải làm gì, mình phải hợp nhất lại. Mình đừng chia ra hai hay ba tổ chức.

Ở đây chúng ta chỉ cần biết lúc bấy giờ tại viện Tả Nhai, vua Trần Thái Tông đã thỉnh các vị như quốc sư Trúc Lâm, thiền sư Tức Lự, thiền sư Ứng Thuận, thiền sư Đại Đăng, thiền sư Thiên Phong tới để giảng dạy và hướng dẫn thiền tập. Cố nhiên là các vị cao đức khác mà trong tài liệu chúng ta có, gọi là các bậc kỳ đức, tức là các bậc cao đức hiếm có, cũng được mời tới viện Tả Nhai để tham vấn thiền đạo, và thực tập ở đó. Trong sách Khóa Hư có ghi lại những cuộc đối đáp giữa vua Trần Thái Tông và thiền sư Thiên Phong mà chúng ta nên biết.

Vua Trần Thái Tông là một nhà chính trị bất đắc dĩ, không muốn làm vua nhưng bắt buộc phải làm vua. Dân muốn vậy thì mình không muốn sao được? Khi làm vua rồi thì mình đâu có thể theo ý thích riêng của mình được, mình phải theo ý thích của toàn dân.

Tại Làng Mai cũng vậy, khi mình đã ở với tăng thân rồi thì mình phải lấy ý thích của tăng thân làm ý thích của mình. Thấy được như vậy thì mình có thể bỏ được ý thích riêng của mình một cách dễ dàng hơn.

Như vậy chúng ta biết rằng các vị như Trúc Lâm, Tức Lự là thuộc bậc thầy, trong khi những vị như Đại Đăng, Ứng Thuận và Thiên Phong là thuộc hàng bạn hữu của vua mà thôi. Trong số những người bạn tu của vua Trần Thái Tông cũng có một vị thiền sư Trung Hoa tên là Tống Đức Thành, từ bên nhà Tống qua. Đức Thành cũng là người có khuynh hướng Lâm Tế. Trong sách Khóa Hư có ghi lại rằng vua đã gặp thầy Đức Thành tại chùa Chân Giáo, và tại đây đã có một cuộc tham vấn, đối thoại xảy ra giữa vua và thiền sư Đức Thành.

Khi đọc được điều này tôi rất mừng vì tôi biết vua đã hết nội kết với chùa Chân Giáo, tức là sự tu hành của vua đã thành công, đã có sự chuyển hóa. Có lẽ lúc đó vua đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông và làm Thái Thượng Hoàng rồi. Nhờ tu học lâu năm cho nên đã cởi mở những niềm đau, những ràng buộc, những mặc cảm, những buồn khổ quá khứ, cho nên đã bắt đầu sử dụng lại chùa Chân Giáo làm chỗ thiền tập tu học, rất là hay.

Đôi khi mình có nội kết với chùa đó, mình không muốn về, nhưng nhờ tu một thời gian thì mình giải tỏa được, cho nên mình trở về với ngôi chùa đó.

Khả Năng Dựng Tăng Của Trần Thái Tông

Chúng ta biết rằng Trần Thái Tông tu học có tăng thân đàng hoàng, và vua rất ưa mời các người trẻ ở trong gia đình hoàng gia đến để cùng học và cùng tu với mình. Chi tiết này rất là quan trọng. Vua có một khả năng xây dựng tăng thân rất lớn, vua là một người có đức.

Chúng ta biết rằng sau khi Trần Thủ Độ bắt vua phải bỏ núi Yên Tử đề về kinh, thì việc nước lúc đó đang rối ren vô cùng. Giặc đánh phá ở biên giới, và ngay tại thủ đô thì anh ruột của mình là Trần Liễu, vì cái hận mất vợ nên cũng đang cầm đầu một đạo hải quân để chống lại triều đình.

Trần Thủ Độ rất là sắt đá. Ông nói rằng hễ làm phản thì bị tội chém đầu!

Một trong những công tác mà Trần Thái Tông phải thực hiện ngay sau khi về kinh đô là phải dẹp cho được giặc Trần Liễu và phải chém đầu anh ruột của mình! Luật bắt buộc như vậy. Chính vua phải cầm quân đi dẹp loạn Trần Liễu, hiện đang đóng quân ngoài sông Cái với một lực lượng thủy quân rất quan trọng. Chúng ta biết tâm tư của ông vua trẻ đó, mới có 20, 21 tuổi mà đã bị đặt trước một hoàn cảnh khó xử như vậy. Nhưng ông vua đó đã bắt đầu sử dụng trí tuệ và trái tim của mình. Bây giờ có thầy nâng đỡ, cho nên vua đã bí mật nhờ gián điệp liên lạc với anh ruột của mình ở bên kia mặt trận, để thay vì đem quân đi xáp chiến thì đóng quân để trấn giữ thôi. Trong khi đó thì cho gián điệp đi liên lạc để hai anh em có thể gặp nhau mà giảng hòa.

Vua Trần Thái Tông rất can đảm. Cuộc dàn xếp đó thành công và vua phải cùng đi với một số tùy tùng trên một chiếc thuyền nhỏ để đến gặp Trần Liễu cũng đi trên một thuyền nhỏ, tại địa điểm đã định. Vì nếu mình đơn thân độc mã đi vào thì có thể bị giết, vì bên kia cố ý trả thù. Cho nên phải sắp đặt như thế nào để không bên nào có thể chiếm được thượng phong. Hai bên phải nằm ở thế cân bằng. Chương trình đó rất là bí mật.

Khi người anh là Trần Liễu nhảy lên thuyền của Trần Thái Tông thì Trần Thái Tông đưa hai tay ra ôm lấy người anh và cả hai anh em cùng khóc! Tại vì cả hai đều là nạn nhân của một chính sách.

Nhưng không biết nhờ những mánh khóe nào mà Trần Thủ Độ biết được cuộc gặp gỡ bí mật đó, cho nên chỉ mươi phút sau là Trần Thủ Độ tới được nơi gặp gỡ! Trần Thủ Độ nhảy vào thuyền, rút gươm ra định chém Trần Liễu. Nên nhớ Liễu cũng là cháu của Trần Thủ Độ. Lúc đó Trần Thái Tông mới ôm lấy Trần Liễu và nói rằng: Nếu chú muốn giết anh của cháu thì chú giết cháu trước! Và nhất định ôm lấy người anh, không chịu buông ra, nếu chết thì chết chung thôi. Lúc đó Trần Thủ Độ mới bỏ gươm xuống và nói rằng: Anh em mày khi thì thù hận nhau, muốn giết nhau, khi thì ôm nhau, ta biết đường nào mà rờ được! Những câu nói đó đã được ghi vào trong sử sách. Khi Trần Thủ Độ đã nói được câu đó rồi thì vua Trần Thái Tông mới nói: Chú ơi, chú thương hai anh em con. Con muốn anh con được sống để chuộc cái lỗi đã làm phản lại triều đình. Rốt cuộc đã đi tới được một kết luận là sẽ cắt một số đất ruộng để cấp cho Trần Liễu, và Trần Liễu chỉ được sống ở trong khu vực đó mà thôi. Phải sống cho yên ổn, không được làm gì lộn xộn. Sau đó thì được phong làm An Sinh Vương. An Sinh tức là sống cho yên, đừng quấy phá. Từ đó về sau Trần Liễu có tên là An Sinh Vương.

Nét đặc sắc của Phật giáo đời Trần là chúng ta có hai vị thiền sư cư sĩ. Có hơn hai vị, nhưng chúng ta chỉ học hai vị thôi. Vị thứ nhất là Trần Thái Tông, vị thứ hai là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung là một thiền sư cư sĩ mà đạo phong rất lớn, dạy luôn cả các thầy nữa. Đó là thầy dạy của vua Trần Nhân Tông, vua thứ ba của đời Trần.

Khi đọc Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục chúng ta thấy toát ra một năng lượng rất là vĩ đại, như là tiếng sét, như là ánh chớp. So với Lâm Tế Ngữ Lục chúng ta thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, cái văn phong cũng như tinh thần thiền nó hùng vĩ không kém gì năng lượng thiền của thiền sư Lâm Tế. Thành ra quý vị nên đọc Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục cho biết.

Quý vị có biết Tuệ Trung Thượng Sĩ là ai không? Ngài là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Nếu Trần Thủ Độ giết Trần Liễu thì chúng ta đã không có Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ là con đầu của An Sinh Vương Trần Liễu, và Tuệ Trung có một người em gái, sau này là hoàng hậu của vua Trần Thánh Tông, tức là vua thứ hai của đời Trần. Thành ra cử chỉ thương yêu, tha thứ của vua Trần Thái Tông đã có một ảnh hưởng rất sâu sắc trên lịch sử Việt Nam. Hai gia đình đáng lý là thù nghịch, giết nhau, mà họ trở nên hai gia đình rất thân thiết, chống đỡ cho nhau.

Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy dạy của vua Trần Nhân Tông. Em gái của Tuệ Trung Thượng Sĩ là hoàng hậu của vua Trần Thánh Tông. Nhưng chưa hết, một người em trai của Tuệ Trung đã đánh bại quân Mông Cổ, dành lại độc lập cho đất nước, đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cũng là con của An Sinh Vương. Cho nên An Sinh Vương được sống và đã cung cấp ba người con vĩ đại cho đất nước. Mà An Sinh Vương sống được là nhờ ai? Nhờ người em có tu, đó là Trần Thái Tông.

Sau này vua Trần Dụ Tông có làm một bài thơ để khen ngợi vua Trần Thái Tông. Vua nói rằng ở bên nước Đường cũng có vua Thái Tông, bên nước Việt cũng có vua Thái Tông. Một bên niên hiệu là Trinh Quán, một bên niên hiệu là Nguyên Phong. Nhưng trong khi Kiến Thành làm phản ở bên nước Đường thì bị xử tử, còn An Sinh làm phản ở nước Việt thì được tha. Vì vậy cho nên tuy Miếu hiệu Thái Tông giống nhau, nhưng đức độ của hai vua rất là khác nhau. Nói một cách khác là đức độ của vua Trần Thái Tông lớn gấp trăm lần so với vua Đường Thái Tông. Đây là bài thơ của vua Trần Dụ Tông:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông Bỉ sinh Trinh Quán ngã Nguyên Phong Kiến Thành tru tử, Yên Sinh tại Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng . 
nghĩa:   (Nước Đường và nước Việt có hai Thái Tông khai sáng cơ đồ. Bên kia thì xưng là Trinh Quán, còn bên ta thì xưng là Nguyên Phong. Kiến Thành thì bị tru di, còn Yên Sinh thì còn được sống. Miếu hiệu Thái Tông tuy giống nhau, nhưng đức độ thì không giống nhau).

Quý vị nghe câu chuyện này thì biết tổ tiên của mình là ai, tu học như thế nào, hành sử như thế nào, và cuộc đời của họ có ảnh hưởng tốt trên đất nước mình như thế nào. Nếu không có lần thiền ôm đó ở trên con thuyền nhỏ, thì làm sao có được Tuệ Trung Thượng Sĩ? Làm sao có được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn? Làm sao có được Hoàng hậu của vua Trần Thánh Tông?

Những Tác Phẩm Của Trần Thái Tông

Theo tài liệu ghi chép lại thì Thái Tông sáng tác được 6 tác phẩm. Tác phẩm đầu, như ta đã biết là Thiền Tông Chỉ Nam. Sáng tác rất sớm trong cuộc đời của ngài, khi ngài mới khoảng 31, 32 tuổi, và được Quốc sư khen là Trái tim của Bụt nằm trong đó.

Tác phẩm thứ hai là Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải. Vua đã chú giải kinh Kim Cương Tam Muội và chúng ta còn bài tựa của tác phẩm này.

Tác phẩm thứ ba là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi mà chúng ta đã nói qua trên đây.

Tác phẩm thứ tư là Bình đẳng Lễ Sám Văn. Một tác phẩm sám hối khác. Bình đẳng ở đây là Samat(, tức là không phân biệt giữa mình và Bụt, tại vì tự tánh của mình và của Bụt hoàn toàn bình đẳng. Không phân biệt người lạy và người bị lạy.

Tác phẩm thứ năm là Khóa Hư Lục. Khóa Hư Lục có thể là những bài hướng dẫn về tu tập, hợp lại thành một cuốn sách. Khóa có nghĩa là những bài học, những thời khóa công phu. Hư có nghĩa là thực tập với một thái độ tự do, không bị vướng mắc. Chúng ta biết có nhiều người thực tập và bị dính mắc vào những hình thái thực tập cho đến nỗi không thừa hưởng được bản chất của sự thực tập. Thực tập như vậy thì rất là nặng nề, kẹt vào hình thức. Như vậy khóa hư ở đây có nghĩa là những thời thực tập với một thái độ không bị vướng mắc.

Tác phẩm thứ sáu là Thi tập, tức là những bài thơ của vua để lại.

Tác phẩm Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải hiện nay chúng ta không thấy còn nữa. Chỉ còn một bài tựa được in lại trong sách Khóa Hư mà thôi. Trong bài tựa này vua có nói rằng mỗi khi vua đọc kinh Kim Cương Tam Muội là trong lòng phát sinh ra trăm ngàn mối cảm hứng. Vì vậy cho nên vua đem những cảm hứng đó, đem hết ruột gan để làm những lời chú giải kinh Kinh Cương Tam Muội.

Chúng ta biết kinh Kim Cương là sự thực tập lấy đi bốn ý niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng sanh, và về Thọ giả. Nếu sống tỉnh thức để có thể nhận diện được bốn ý niệm đó trong đời sống hàng ngày, để đừng vướng mắc vào chúng, thì mình đã sống thường trực trong tam muội gọi là Kim Cương Tam Muội.

Bình Đẳng Lễ Sám Văn cũng là một nghi thức sám hối và nghi thức này cũng đã mất, và bài tựa cũng còn được giữ lại trong sách Khóa Hư Lục. Nếu ta suy tư về đề tài của tác phẩm và nếu căn cứ trên bài tựa thì chúng ta có thể biết rằng nghi thức này được viết sau Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, và nghi thức này có một chiều triết học thâm sâu hơn là nghi thức Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi.

Khi có thì giờ nghiên cứu, học hỏi những tác phẩm của vua Trần Thái Tông, chúng ta nhận thức rằng cái nhu yếu đầu tiên mà chúng ta thấy được trong các tác phẩm đó là nhu yếu muốn sống tỉnh thức. Vua không muốn sống đời sống mê ngủ, đắm chìm.

Chúng ta biết tác phẩm Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi là một sự nhắc nhỡ, không phải chỉ bằng lý thuyết, bằng cách đọc, mà nhắc nhở bằng sự thực tập mỗi ngày sáu lần. Nhắc rằng con mắt của mình có thể đưa mình đi rất xa; lổ tai của mình có thể đưa mình đi rất xa; lưỡi của mình cũng có thể đưa mình đi rất xa. Và khi đi xa rồi thì mình đánh mất quê hương, mình không thấy được những cái quan trọng nhất của sự sống. Không thấy được nhu yếu thâm sâu nhất của cuộc đời mình. Tình trạng của những người không tu học, không có chánh niệm, không có tăng thân là tình trạng gọi là “túy sinh mộng tử”, nghĩa là khi sống thì sống như một người say, khi chết thì cũng chết ở trong giấc mộng. Sống say chết mộng. Vua không muốn như vậy. Vua nhắc nhở mình phải sống tỉnh thức, cho nên thời khóa Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi là để đánh thức mình dậy trong mỗi giờ phút của sự sống.

Trong Khóa Hư Lục vua có làm những bài kệ về bốn núi, gọi là Tứ sơn kệ. Đây là một phương tiện để vua tự nhắc mình đừng sống trong cơn say, đừng chết trong giấc mộng.

Chúng ta biết rằng ngày xưa, hồi Bụt còn tại thế, một hôm Bụt có nhắc vua Ba Tư Nặc một vấn đề. Hôm đó vua đến thăm Bụt, và được Bụt hỏi những câu về bốn ngọn núi:

Đại vương! Nếu Đại vương đang ngồi trong cung mà có một phái đoàn trinh thám của Đại vương chạy về và nói rằng từ phương Đông có một ngọn núi vĩ đại đang di chuyển lần lần đến kinh đô, và trên con đường di chuyển nó làm tan nát hết những công trình xây dựng, những sinh mạng, những sông núi. Khi vừa nghe báo cáo như vậy xong thì có một phái đoàn khác, về tới cung và nói từ phương Tây cũng có một ngọn núi vĩ đại đang di chuyển tới kinh đô, và trên đường đi nó cũng đang tiêu diệt tất cả những sinh mạng, sông núi, thành quách. Và rốt cuộc thì Đại vương được báo cáo từ bốn phía có bốn ngọn núi đang đi tới như vậy. Đại vương biết rằng Đại Vương không có thì giờ nữa. Bốn ngọn núi đó tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử, và chúng đang đi tới ép vua. Vậy thì Đại Vương phải làm gì?

Bụt thấy vua đã lớn tuổi mà tu học không được tinh chuyên mấy, có vẻ nhởn nhơ, cho nên Bụt mới đưa ra hình ảnh bốn trái núi bao vây, đang từ từ tiến tới, để nhắc nhà vua rằng thời gian đã cấp bách, không gian đã thu hẹp. Vua Ba Tư Nặc cũng thông minh lắm nên vua nói: Bạch Đức Thế Tôn, trong trường hợp đó thì câu trả lời duy nhất là mình phải sống những giờ phút còn lại của mình cho chánh niệm.

Khi vua Trần Thái Tông đọc được kinh đó thì vua rung động, tại vì nhà vua cũng muốn làm được như vua Ba Tư Nặc, và có thể muốn làm hơn vua Ba Tư Nặc nữa. Cho nên vua đã làm bốn bài thơ về bốn trái núi, và vua đã viết những bài chú giải về bốn trái núi rất là hay. Quý vị nên tìm đọc cho biết.

Chuyện Bụt nói về bốn trái núi cho vua Ba Tư Nặc nghe đã được ghi chép trong Biệt dịch Tạp A Hàm (Samyukt(gama), và trong kinh Tăng Nhất A Hàm (Ekattarik(gama. Ngày xưa vua Trần Thái Tông đã được đọc những kinh đó.

Bài kệ bốn núi là những bài kệ nhắc nhở cho chúng ta về tính cách vô thường của một đời người. Mình tự đánh mất đời của mình trong lãng quên, trong hình sắc, trong âm thanh, để rốt cuộc không còn cơ hội tìm ra cội nguồn, ra quê hương của mình. Đó là một điều rất đáng tiếc!

Bài kệ thứ nhất có bốn câu, tôi dịch như sau:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng, Mắt theo hình sắc, mũi theo hương, Lênh đênh làm khách phong trần mãi, Ngày hết quê xa vạn dặm đường.

Khách phong trần tức là khách gió bụi. Chúng ta đi hoang, đi như những hồn ma bóng quế, như những con ma đói, chạy theo những vị này, những âm thanh kia, hình sắc nọ, mùi hương đó. Chúng ta không biết con đường về quê của chúng ta, và chúng ta suốt đời làm một lữ khách trên đường gió bụi. Ngày đã hết rồi, đời đã gần tàn rồi mà đường trở về quê hương còn xa vạn dặm. Đó là một nhu yếu thức tỉnh, nhu yếu trở về.

Đây là một hình ảnh mà vua đưa ra để chúng ta thấy cuộc đời chỉ là một chớp nhoáng mà thôi. Nếu mình không tỉnh thức, thì cuộc đời năm chục hay bảy chục năm chẳng qua chỉ là một giấc mộng.

Hình ảnh tuyệt diệu mà vua Thái Tông đã dùng để đánh thức chúng ta là hình ảnh một trận bão kinh hoàng, trong đó một ngư ông say túy lúy, đang đứng trên một chiếc thuyền tự do vượt sóng sang sông:

Một trận cuồng phong dậy đất bằng, Ngư ông say khướt thả thuyền ngang, Bốn phương mây kéo màu đen kịt, Một dải sông reo sóng dậy tràn, Sầm sập tóe tung mưa xối xả, Ì ầm chuyển vận sấm oang vang, Phút giây bụi cuốn chân trời tạnh, Canh vắng dòng sông bóng nguyệt tàn

Hãy tưởng tượng một dòng sông lớn và một trận bão đang xảy ra. Trong khi đó có một người đánh cá đang chèo thuyền đi trong cơn sóng to gió lớn đó. Mà ngư ông này lại là một người đang say!

Đất nước và thế giới đang trải qua một trận cuồng phong mà mình không thấy gì cả, mình chèo một chiếc thuyền đi ngang qua vùng hiểm nguy đó trong khi mình hoàn toàn say sưa. Người ngư phủ say khướt thả thuyền ngang đó là ai nếu không phải là chính ta?

Bốn phương mây kéo màu đen kịt, không có gì chứng tỏ có một tương lai cả. Một dải sông reo sóng dậy tràn, Chỉ thấy sóng gió thôi. Sầm sập tóe tung mưa xối xả, Ì ầm chuyển vận sấm oang vang. Đó là cảnh tượng của một trận bão tố kinh hoàng.

Phút giây bụi cuốn chân trời tạnh, Canh vắng dòng sông bóng nguyệt tàn. Tự nhiên sóng gió im lặng, không còn nghe gì nữa, chân trời không có mây, trăng bắt đầu lặn, dòng sông rất yên tỉnh, nhưng có một điều mình cũng thấy là con thuyền và cả ngư ông đều đã tan biến như một ảo ảnh, như chưa bao giờ từng có hết.

Phút giây bụi cuốn chân trời tạnh, Canh vắng dòng sông bóng nguyệt tàn. Hai câu đó cho chúng ta thấy tất cả những điều mà chúng ta thấy trong sáu câu đầu của bài kệ đã xảy ra như huyễn mộng.

Nên biết rằng chúng ta chính là ngư ông đang say rượu và đang lái chiếc thuyền đi ngang qua sông trong cơn bão tố, rất là nguy hiểm. Vua Trần Thái Tông rất không muốn đóng vai của ngư ông như vậy. Nhu yếu của vua là sống cuộc đời tỉnh thức.

Vua có viết một bài quán chiếu về thân thể. Có lẽ hồi đó vua cũng còn trẻ, chừng 30 tuổi. Ai là người 30 tuổi hãy lắng nghe:

Khi xưa tóc mượt má hồng, Ngày nay tro xanh phương trận Khi mưa lệ tưới mây ảm đạm, Lúc gió sầu lay nguyệt mơ màng

Tóc có mượt bao nhiêu đi chăng nữa, má có hồng cách mấy đi nữa thì có một ngày nào đó xương của mình sẽ trắng hếu, tro của mình trong lò thiêu sẽ trở thành màu xám.

Đây là cảnh tượng của một nấm mồ ở trong bãi tha ma:

Canh tàn thì quỷ khóc thần sầu, Năm muộn thì trâu dày ngựa đạp Đom đóm lập lòe trong cỏ biếc,Côn trùng rền rĩ ngọn dương trơ, Bia đá một nửa phủ rêu xanh, Tiều mục đạp ngang thành lối tắt.

Trong bài tựa Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, vì vua nghĩ rằng khi nào có được tâm bồ đề thì mình sống mới tỉnh thức, mới có hạnh phúc. Vì vậy vua đã sáng tác một bài văn gọi là “Mời tất cả quý vị hãy phát tâm bồ đề”:

“Công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài, Phú quý kinh người, khó trách “vô thường” hai chữ, Tranh nhân chấp ngã, ruốt cuộc là không, Khoe giỏi khoe hay, rốt cùng chẳng thực, Tứ đại rã rời thôi già trẻ, Núi khe mòn mỏi hết anh hùng,

Già cũng vậy, trẻ cũng vậy, sẽ có ngày bốn đại rã rời ra. Anh hùng cũng vậy mà người khiếp nhược cũng đều vậy cả.

Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha, Kẻ mừng mới đi thì người điếu đã tới

Những người nào bắt đầu có hai màu tiêu muối ở trên đầu, đọc bài này chắc thấm lắm. Mừng đám cưới vừa xong thì người điếu đám ma cũng vừa tới!

Một bao máu mủ, Bao năm khổ luyến ân tình 
(Nhất bao nùng huyết Trường niên khổ luyến ân tình)

Đọc những hàng chữ này chúng ta nên nhớ tác giả là ai, tác giả đã từng yêu, từng khổ. Nhất bao là một cái bao, một cái bọc. Nùng huyết là máu và mủ ở trong con người của chúng ta. Đó là Bất tịnh quán. Con người chỉ là một bao máu mủ mà thôi. Vậy mà ngày này sang ngày khác, đêm này sang đêm khác, năm này sang năm khác, nhớ thương, quyến luyến, khổ đau vì người ân, người tình.

Bảy thước xương khô, mặc sức xan tham tiền của,

Bảy thước đây là bảy thước ngày xưa, bằng khoảng thước bảy thước tám bây giờ. Bảy thước xương khô là một bộ xương khô. Nhìn cho kỹ thì mình chỉ mang một bộ xương khô đi theo thôi. Vậy mà mình tom góp đồng này đồng khác, nghĩ rằng hạnh phúc nằm ở chỗ tom góp. Điều này người nào có đi ngang qua thì mới thấm thía, người nào chưa đi ngang qua thì có thể mỉm cười hoài nghi.

Thở ra không hẹn thở vào, Ngày nay không tin ngày kế, Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ, Nấu nung nhà cháy biết bao thôi?”

Sông yêu tức là ái hà, sông tham ái (Ái hà thiên tích lãng – Khổ hải vạn trùng ba). Thiên tích lãng là có những đợt sóng cao ngàn trượng. Ái hà thiên tích lãng là ý nói trong sông yêu có những đợt sóng cao cả ngàn trượng, mình sẽ chìm đắm, sẽ chết đuối trong những đợt sóng đó. Khổ hải vạn trùng ba, là trong biển khổ có những đợt sóng vạn trùng.

Chúng ta có bài tán:

Ái hà thiên tích lãng, Khổ ải vạn trùng ba, Dục thoát luân hồi khổ, Tảo cấp niệm Di Đà.

Nhờ các thầy dạy cho các sư cô, sư chú tán bài này. Trong Nghi thức Tụng Niệm Đại Toàn chúng ta có bài Niệm Bụt tương đương:

Sông Ái dài muôn dặm, Biển Mê sóng vạn tầm, Cõi luân hồi muốn thoát, Niệm Bụt hãy nhất tâm.

Những Nhu Yếu Của Vua Trần Thái Tông

Nhu Yếu Tỉnh Thức

Hôm trước chúng ta đã nói về nhu yếu tỉnh thức trong con người của vua Trần Thái Tông. Chúng ta biết rằng tuy sống trong một hoàn cảnh mà sắc, thanh, hương, vị, xúc hết sức lôi cuốn, vị vua này có nhu yếu tỉnh thức và không muốn bị cuốn đi bởi những sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vì vậy nhu yếu tỉnh thức là một nhu yếu rất rõ rệt trong con người của vua Trần Thái Tông.

Vua nhận thức rằng cuộc đời rất là ngắn, nếu mình bị đắm chìm trong biển sắc, biển hương, biển danh lợi, thì rốt cuộc sẽ không có gì cả và mình không có cơ hội nào để trở về, để thực hiện được hoài bão thâm sâu nhất của đời mình.

Khi đi tu mình cũng có nhu yếu như Trần Thái Tông. Mình muốn một cái gì đó. Cái đó là sự hiểu biết, sự giác ngộ, sự thương yêu. Mình đi tu là để có thể thương yêu và cứu độ cho nhiều người, nhiều loài. Nếu mình không nuôi sống nhu yếu tỉnh thức thì mình sẽ bị  đắm chìm trong sắc, thanh, hương, vị, xúc tầm thường, đánh mất cuộc đời mình, và chí lớn của mình không thực hiện được.

Chí lớn của Trần Thái Tông không phải là chí làm vua. Ngồi trên thiên hạ, chí của Trần Thái Tông cao hơn nhiều. Đó là đạt đạo, làm hạnh phúc cho nhiều người.

Có thể chính trị chỉ là một trong những phương tiện để vua thực hiện chí lớn đó mà thôi. Chúng ta đã có lần nói rằng Bồ đề tâm cũng là tâm thương yêu. Khi chúng ta phát Bồ đề tâm, chúng ta nguyện thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, và làm sao chúng ta thương được nếu chúng ta chết chìm trong biển danh sắc? Cho nên nhu yếu tỉnh thức là một nhu yếu rất căn bản.

Bài kệ thứ tư trong bốn bài kệ Tứ Sơn mà chúng ta đã đọc kỳ rồi là bài nói về cái chết: Sinh, lão, bệnh, tử. Hình ảnh mà Thái Tông đưa ra là hình ảnh một ông ngư phủ say túy lúy, đang chèo thuyền sang sông trong lúc có một trận bão lớn. Khi bão tan, trời tạnh không còn mây, mặt trăng hiện rõ trên trời và sắp lặn thì hoàn toàn không còn thấy bóng ngư phủ ở đâu nữa. Ngư phủ đã chìm xuống lòng sông! Đời của một người vẫn như chưa bao giờ từng xảy ra! Hình ảnh mà chúng ta thấy trong cơn giông đó, người ngư phủ say túy lúy đưa thuyền sang ngang đó, bây giờ không còn nữa. Nó chỉ là một lằn chớp. Đây là một hình ảnh rất đặc thù của Trần Thái Tông đưa ra để cho chúng ta thấy rằng nếu sống bê bối, nếu chúng ta sống không tỉnh thức, không tinh chuyên thì đời ta sẽ đi qua một cách rất là chớp nhoáng, và chúng ta không thực hiện được tình thương lớn của chúng ta, không thực hiện được tâm Bồ đề, tâm thương yêu của chúng ta.

Nhu Yếu Tinh Chuyên

Ngoài thức tỉnh, ta còn phải siêng năng, phải có nhu yếu tinh chuyên nữa.

Về tinh chuyên, vua Trần Thái Tông có thể đứng vào hàng đầu, tại vì vua rất siêng năng. Không những phải học về chính trị, học đạo Nho, mà còn phải học đạo Phật nữa. Đạo Nho để trị nước, còn đạo Phật để mà tu thân, mà độ đời. Vì vậy cho nên vua thức dậy rất sớm.

Tác phẩm Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi cho chúng ta thấy rằng vua thức dậy rất sớm để làm lễ sám hối. Vua đã thực tập nghi thức này sáu lần trong một ngày. Sự siêng năng, tinh tấn của vua là một yếu tố quyết định sự  thành công của vua.

Khi có một người bạn tu có nhu yếu tinh tấn thì chúng ta được thừa hưởng sự có mặt của họ rất nhiều. Một mình chúng ta có thể lười biếng, nhưng khi sống trong tăng thân có những người có nhu yếu tinh chuyên thì tự nhiên chúng ta được hưởng hạnh phúc đó. Cho nên làm bạn với một người tinh chuyên là điều chúng ta cần, và ở chung phòng với một người tinh chuyên là điều chúng ta muốn.

Nhu Yếu Làm Mới Để Chuyển Hóa Kết Sử

Thái Tông có một cái mặc cảm tội lỗi, cho nên vua luôn luôn có nhu yếu làm mới, tức là sám hối. Chúng ta biết mặc cảm đó có nhiều khía cạnh: Bắt buộc phải cưới người chị dâu; bắt buộc phải chấm dứt dòng họ nhà Lý; bắt buộc phải chịu trách nhiệm về cái chết của rất nhiều người thuộc tôn thất nhà Lý, tại vì Thủ Độ đã tổ chức ám sát rất nhiều người quan trọng trong dòng họ tôn thất nhà Lý. Hoàng thân Lý Long Tường phụ trách một phần thủy quân thời đó, đã bỏ Đại Việt, đem gia đình và thân thích đi tị nạn ở Cao Ly. Sở dĩ trở thành thuyền nhân, sở dĩ phải đi khỏi nước là tại vì sợ lọt vào bàn tay của Trần Thủ Độ.

Mùa Xuân năm nay, trong chuyến hoằng pháp tại Đại Hàn, tôi đã đi với một số các thầy, các sư cô và một số các vị khác, và đã được gặp một số các vị lớn tuổi trong gia đình họ Lý. Họ là cháu ba mươi mấy đời của Lý Thái Tổ. Những người đó đã có dịp trở về Việt Nam để thăm quê hương sau một cuộc viễn du trên bảy trăm năm. Tôi đã thuyết pháp, đã nói cho họ biết rằng đạo Bụt là một cơ sở tinh thần đã xây dựng ra triều Lý, và triều Lý đã dâng hiến cho dân tộc Việt Nam mấy trăm năm hòa bình và hạnh phúc.

Kỳ trước chúng ta đã nói tới sự làm hòa giữa anh em Trần Liễu và Trần Cảnh. Chúng ta nói tới chuyện Trần Liễu được tha chết, nhưng chưa nói tới số phận của những người đi theo Trần Liễu trong vụ nổi loạn ở Sông Cái.

Sau cuộc nổi loạn đó tất cả đều bị giết chết! Trần Thái Tông chỉ cứu được anh ruột của mình mà thôi. Chúng ta nên nhớ rằng nhà vua hồi đó mới có 20 tuổi, chưa thực sự nắm quyền bính trong tay. Tất cả quyền hành đều nằm trong tay của người lớn, trong đó có Trần Thủ Độ. Cho nên sau vụ bắt và giết những người cầm đầu việc phản loạn thì Trần Thái Tông đau khổ vô cùng. Nghĩ rằng mình chịu trách nhiệm về cái chết của bao nhiêu người, cho nên nhà vua đã thức trắng đêm, thức nhiều đêm để khóc! Cho nên vua đã thực tập sám hối mỗi ngày sáu lần. Tuy vua không trực tiếp ra lệnh giết, nhưng mình là vua, cho nên mình có trách nhiệm về mọi chuyện xảy ra trong nước.

Từ đó trở đi thì nhà vua càng ngày càng siêng năng học hỏi, tu tập, và từ từ nắm lấy quyền bính trong tay. Tại vì nếu mình không làm vậy thì người ta vẫn quyết định công việc, và mình chỉ là bồ nhìn mà thôi. Một trong những lý do đã khiến cho vua tinh chuyên tu học là chỗ đó. Sự thực tập đã giúp vua chuyển hóa. Sau này vua đã làm lợi ích cho nước, cho dân rất nhiều. Cho nên cái mặc cảm tội lỗi đó từ từ tan biến đi. Cuối cùng thì vua có thể tụ tập các bậc kỳ đức, học hỏi và thiền tập tại Chùa Chân Giáo, một nơi mà lúc ban đầu vua rất sợ, không dám tới. Chùa Chân Giáo là ngôi chùa trong đó vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông đã thắt cổ tự tử.

Nhu Yếu Trở Về Quê Hương Đích Thực

Nhu yếu kế tiếp mà chúng ta có thể tìm thấy ở vua Trần Thái Tông là nhu yếu trở về quê hương đích thực của mình. Trong thi văn của vua Trần Thái Tông chúng ta thấy rất nhiều câu nói tới nhu yếu trở về, ví dụ trong bài kệ thứ nhất là bài Sinh  Lão – Bệnh-Tử, vua viết:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng, Mắt theo hình sắc, mũi theo hương, Lênh đênh làm khách phong trần mãi, Ngày hết quê xa vạn dặm đường.

Quê thì xa, ngày thì hết mà mình thì đắm chìm trong sắc, trong thanh, trong hương. Chỉ trong bốn câu thôi là mình thấy được tất cả bốn cái nhu yếu của Trần Thái Tông: Nhu yếu tỉnh thức, nhu yếu tinh chuyên, nhu yếu làm mới lại, nhu yếu trở về quê hương của mình.

Ở Làng Mai chúng ta thực tập Tam quy, quay về nương tựa như là một sự trở về. Chúng ta thực tập quán niệm hơi thở, thực tập thiền tọa, thực tập thờ cúng tổ tiên đều là để trở về. Chúng ta có nhu yếu trở về với tổ tiên của chúng ta, với gốc rễ của chúng ta, với quê hương của chúng ta mà chúng ta gọi là true home. Khi nghe chuông, chúng ta nói:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương.

Quê hương đó không phải là một cái gì trừu tượng. Quê hương đó có mặt tại đây và bây giờ. Mỗi giây, mỗi phút trong đời sống thực tập, chúng ta đều trở về quê hương cả. Chỉ có trở về quê hương đó chúng ta mới có được sự bình an, sự vững chãi, sự thảnh thơi, và có hạnh phúc mà thôi. Nếu không có bốn cái đó thì chúng ta không làm được gì hết cho quê hương, cho đất nước, cho đồng bào, cho nhân loại. Chúng ta không thỏa mãn được nhu yếu thương yêu, nhu yếu hiểu biết của chúng ta.

Điều mà Trần Thái Tông sợ nhất là “Lênh đênh làm khách phong trần mãi”. Chúng ta có đang làm khách phong trần, lênh đênh, làm lục bình trôi riu ríu mỗi ngày, nước chảy đến đâu thì mình trôi đến đó hay không? Mình phải nắm lấy cái vận mạng của mình.

Trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm, tức là mời mọi người cùng phát tâm Bồ đề, tâm thương yêu, vua có viết: Nếu mình có khả năng quay ánh sáng trở lại mà chiếu vào trong con người của mình, thì mình có thể đạt tới sự kiến tánh, sự thành Phật. Chính trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm đó, vua đã nói ra một câu bất hủ mà chúng ta thường lặp đi lặp lại nhiều lần: “Bộ bộ đạp trước thật địa”, có nghĩa là mỗi bước, chúng ta phải giẫm lên trên mảnh đất của thực tại, đừng đi như những con người mộng du. Chúng ta phải đi thiền hành, phải sống cho tỉnh táo, đừng sống trong những cơn mơ.

Trong bài Phổ thuyết pháp thân, tức là nói tổng quát về hình hài của mình, tại vì quán chiếu về hình hài là một phương pháp quán chiếu rất quan trọng trong phép tu thiền, vua viết rằng: “Nếu ta đã có con mắt sáng thì ta nên dùng con mắt sáng đó để nhìn trở lại đời sống của chúng ta”. Có nghĩa là ta đang làm gì với đời của chúng ta, mỗi ngày chúng ta sống như thế nào, chúng ta buồn, chúng ta vui như thế nào. Mỗi ngày chúng ta chạy theo những cái gì trong những giấc mơ, trong những ước muốn của chúng ta, chúng ta phải thấy. Nếu thấy thì phải có con mắt sáng, và nếu đã có con mắt sáng thì hãy cấp tốc nhìn lại chính mình.

Con mắt sáng đó tại sao mình không có? Mình có chứ. Con mắt đó Bụt đã trao lại, thầy đã trao lại cho mình. Phải dùng con mắt đó để nhìn lại chính mình. Đừng nói mình không có con mắt đó, mình có!

Cũng như chàng dũng sĩ trong truyện Cửa Tùng Đôi Cánh Gài có cái kính chiếu yêu. Có kính và chàng phải dùng kính chiếu yêu đó, nếu không thì một ngày kia chàng sẽ biến thành một con quỷ! Người tu cũng vậy, mình có con mắt sáng, con mắt sáng đó là con mắt của Chánh Niệm, con mắt đó thầy đã trao, Bụt đã trao, tổ tiên đã trao. Mỗi ngày phải dùng con mắt sáng đó, quay trở lại nhìn vào đời sống hàng ngày của mình.

Cất mình vượt khỏi hố sinh tử, Dang tay xé toạc lưới ái ân.

Văn rất là mạnh, rất là hùng tráng. Cất mình nhảy một cái để vượt khỏi hố sanh tử, đừng làm lục bình trôi riu ríu, vấn đề sinh tử là vấn đề lớn nhất của người tu, Sinh tử sự đại! Sự tu học hàng ngày của mình là phải vượt được sinh tử, tại vì nếu không vượt được sinh tử thì làm sao có thể cứu được những người khác. Nếu mình còn sợ hãi, còn chìm đắm thì làm sao có thể giúp được người khác?

Lưới ái ân làm cho mình mất hết tự do. Một khi đã vướng vào lưới ái ân rồi thì đâu còn làm ăn gì được nữa? Đây là lời của một ông vua, một người có đủ điều kiện để sống trong nhung lụa, trong thanh sắc. Ông vua này không chịu sống trong nhung lụa, không chịu sống trong thanh sắc, ông chỉ muốn “Cất mình vượt khỏi hố sinh tử, Dang tay xé toạc lưới ái ân”. Đó là cái chí khí của bậc trượng phu, của người muốn có tự do lớn. Chỉ có những người có tự do lớn mới có thể làm được việc lớn mà thôi. Việc lớn đó tức là việc độ thoát sinh tử. Nam cũng vậy, nữ cũng vậy, đều có thể thực tập.

Nếu đã có con mắt sáng thì mau mau phản tỉnh hồi quang, cất mình vượt khỏi hố tử sinh, dang tay xé toạc lưới ân ái. Nam cũng vậy, nữ cũng vậy, đều có thể tu. Trí cũng vậy, ngu cũng vậy đều có cơ hội. Nếu chưa đạt được tâm Phật, trí Tổ thì trước hết hãy nương vào phép trì giới niệm kinh. Kịp đến khi đạt được trình độ Phật cũng không mà Tổ cũng không thì còn giới nào cần trì, kinh nào cần niệm? Nơi ảo sắc mà cũng như ở nơi chân sắc. An trú trong phàm thân mà cũng là an trú trong Pháp thân. Phá lục tặc làm nên lục thần thông. Rong chơi trên biển bát khổ như là rong chơi trên biển tự tại.

Đó là giọng văn của Trần Thái Tông, rất hùng tráng. Nếu không có chí lớn thì không thể nói được những lời hùng vĩ như vậy. Đó là lời vua viết trong bài Phổ Khuyến Sắc Thân. Sau này chúng ta sẽ nghiên cứu, học hỏi về những công án của vua đưa ra.

Nhu Yếu Sám Hối Chân Thật

Chúng ta nên nhớ phương pháp tu tập của vua rất là thực tế. Những giáo lý mà vua diễn bày trong những bài chúng ta vừa học, nói lên tự tánh vô thường, vô ngã. Chúng ta biết rằng sau này vua có tu theo phương pháp thiền công án. Nhưng thiền công án là chịu ảnh hưởng của phái Lâm Tế, trước đó vua đã tu theo những phương pháp cổ điển.

Trước hết là phương pháp sám hối, niệm Phật, tụng kinh. Vua đã học kinh Kim Cương rất kỹ. Vua cũng đã chú giải kinh Kim Cương Tam Muội, vì vậy mà sự thực tập sám hối của vua đã không ngưng lại ở chỗ hình thức mà nó đi sâu vào phương diện nội dung. Vua còn sáng tác một văn sám hối tên là Bình Đẳng Sám Hối Văn.

Chúng ta biết rằng ban đầu vua có thể có mặc cảm tội lỗi, và cái mặc cảm tội lỗi đó có thể đeo đẳng mình, có thể làm cho mình tiêu diệt. Khi mình bị cái mặc cảm tội lỗi bám sát thì mình không làm ăn gì được. Khi sám hối và sám hối cho đúng phương pháp thì phải làm sao cho mặc cảm tội lỗi đó tiêu tán đi.

Tinh thần của sám hối là những lỗi lầm của mình tự tâm mà phát sinh ra, là tại mình u mê, cho nên nó phát sinh ra những lời nói, những hành động, những tư tưởng tội lỗi, đem lại đau khổ cho mình và cho người. Sám hối không có nghĩa là xin tội, xin tha cho cái tội mà con đã lầm lỡ vụng dại tạo ra trong quá khứ. Sám hối là làm thế nào để tâm của mình chuyển đổi, tâm tội lỗi chuyển thành tâm giác ngộ, tâm thương yêu. Ngày xưa tâm của mình là tâm u mê cho nên mới tạo ra những suy tư như vậy, những hành động như vậy, những nói năng như vậy, làm khổ mình và làm khổ người. Bây giờ tu tập sám hối là làm thế nào để chuyển cái tâm u mê thành ra tâm hiểu biết, tâm quảng đại, tâm tha thứ, tâm rộng mở. Khi tâm mình chuyển hóa như vậy thì tất cả đều chuyển hóa, cho nên chúng ta thường có câu nói: Tội trùng tâm khởi, trùng tâm sám. Có nghĩa là những lỗi lầm do tâm mà sinh ra và cũng do tâm mà nó tan biến đi. Như vậy tất cả đều do cái chìa khóa tâm mà ra. Nếu tâm của ta thay đổi rồi thì cái mặc cảm tội lỗi đó sẽ tan biến.

Cách đây chừng sáu hay tám năm tôi có hướng dẫn một khóa tu cho những người cựu chiến binh Hoa Kỳ đã tham chiến ở Việt Nam. Trong khóa tu đó có nhiều người có những niềm đau khổ ray rức ghê gớm, có những niềm hối hận rất lớn, bám theo họ suốt ngày đêm. Cho nên tôi phải dạy cho họ phương pháp sám hối, mà phải dạy sao cho việc sám hối có thể giúp họ chuyển hóa được. Trong số đó có một người cựu chiến binh Hoa Kỳ đã tới Làng Mai, và đã đạt tới một trình độ chuyển hóa khá cao.

Trong thời gian lâm chiến ở Việt Nam, một hôm hành quân, ông bắt được một cô nữ du kích bị thương nặng, đang hấp hối. Ông khiêng cô du kích đó lên trực thăng, và vì trên trực thăng không đủ phương tiện để cứu cấp nên người nữ du kích đó chết trên trực thăng, nhưng hai con mắt cô ta nhìn ông chòng chọc và ông không bao giờ có thể quên được hai con mắt đó!

Cố nhiên trong mắt của người nữ du kích thì ông là một người cướp nước, một người tàn bạo, tới đất nước người ta để đánh phá, để giết chóc! Cái nhìn của cô nữ du kích đó không bao giờ ông quên được. Hai mươi mấy năm sau ông ta vẫn còn nhớ, và nó ám ảnh ông suốt ngày đêm, làm ông không ngủ được. Cô du kích có mang theo trong người một cái võng bằng nylon, tại vì du kích ban đêm phải ngủ ở trong rừng. Sau khi cô nữ du kích chết rồi thì người chiến binh này cất giữ cái võng nylon đó. Đã biết bao nhiêu lần những người trong gia đình và bạn bè của ông khuyên ông đem cái võng đó đốt đi, cho nó hết chứng tích. Nhưng ông ta không thể nào làm công việc đó được!

Khi có những đau khổ thì trong thực tế đôi khi mình muốn bám riết vào những cái đau khổ của mình! Cái võng đó tượng trưng cho niềm đau, nỗi khổ, niềm hối hận của ông ta. Trong khóa tu đó những người cựu chiến binh ngồi chung trong một vòng tròn, có cơ hội để nói ra những đau khổ của mình, nhưng có người đã nói ra không được. Cho phép nói, chờ năm phút, mười phút, mười lăm phút cũng nói không được. Thành ra trong những khóa tu đó mình phải rất thương yêu, phải có những người tươi mát đến để yểm trợ, tại vì cái ánh mắt, cái cử chỉ của mình, tất cả những cái đó đều có thể khuyến khích người kia nói ra được niềm đau nỗi khổ của họ.

Có những người cựu chiến binh khi đi thiền hành không dám đi trong đám đông, tại vì họ có cảm tưởng sẽ có một cuộc phục kích, nếu đi trong đám đông thì có thể sẽ bị phục kích, có thể sẽ bị giết.

Họ sống trong tâm trạng đó! Ngày xưa họ đã từng đi trong rừng nhiệt đới, mỗi bước đi có thể làm nổ một trái mìn, cho nên bây giờ đi thiền hành, đi từng bước chầm chậm làm cho ông nhớ lại những lúc đi trong rừng và tự nhiên ông hoảng sợ! Thành ra trong khi đại chúng đi thiền hành chung với nhau, ông ta đi cách đại chúng đến hai, ba mươi thước, nghĩ rằng nếu có chuyện gì xảy ra thì ông có thể chạy thoát được! Ông vẫn tiếp tục đi theo, vẫn tiếp tục sống với cái thế giới ngày xưa của ông.

Ngày chót của khóa tu đó, có một lễ cầu siêu, và tôi đã làm phép gia trì tịnh thủy để rải nước từ bi lên trên đạo tràng. Một bàn thờ đã được thiết lập, và trên bàn thờ đó có ghi tên những người mà các cựu chiến binh đã giết. Đôi khi những người mình giết mình không biết tên, thì tôi bày họ ghi rằng “Đây là bài vị của những người tôi đã giết, đã chết vì những bom đạn, vì những khẩu súng của tôi”. Sau khi làm lễ gia trì tịnh thủy tôi đã rải tịnh thủy lên bàn thờ đó, lên trên những bài vị đó, và lên đầu, lên thân hình của các cựu chiến binh. Tất cả đều cúi đầu xuống để nhận những giọt cam lồ tịnh thủy. Sau đó là buổi thiền hành, mỗi người rước linh vị đó ra hồ để làm lễ hỏa thiêu và tụng kinh siêu độ cho những nạn nhân của cuộc chiến, những người đã bị giết.

Tuy vậy người cựu chiến binh nói trên vẫn không chịu đưa cái võng của cô du kích để người ta bỏ vào đống lửa. Nhưng tới giờ chót, trong tiếng kinh trầm hùng, trong những giọt nước mắt nóng hổi, xót thương, ông ta đã chịu đưa cái võng ra và đặt vào đống lửa đang cháy bùng. Trong khi cái võng đó cháy, thì có một cái gì trong lòng ông cũng cháy. Đó là niềm đau nỗi khổ, đó là cái mặc cảm tội lỗi của ông.

Mình đã bước đi được một bước, hai bước trên con đường chuyển hóa, thì mình phải tiếp tục thực tập mới được.

Có một cựu chiến binh khác cho biết đơn vị của anh bị phục kích và cả đơn vị chết hết, chỉ còn một mình anh sống sót. Anh căm thù. cho nên anh muốn trả thù dân trong làng đó. Anh đã lấy sandwich của anh, cho thuốc độc vào, bày ra ở một mô đá rồi núp để chờ dân làng đi qua. Trong khi núp, anh thấy con nít kéo nhau ra lấy sandwich ăn. Anh sung sướng trong lòng lắm. Để cho tụi nó chết cho biết tay, tại vì tất cả những bạn chiến đấu của anh đều chết trong trận phục kích tại làng này! Khi đám trẻ ăn xong, chúng lăn lộn, quằn quại. Cha mẹ của các em chạy ra tìm cách cứu chữa. Anh biết rằng không có cách gì cứu được các em bé này! Cái hình ảnh những đứa bé quằn quại rồi chết vì chất độc, nó in sâu vào tâm trí của anh. Cho đến 15 năm sau anh vẫn không thể nào ngồi chung với con nít trong cùng một gian phòng! Khi nào chợt nhận ra rằng mình đang ngồi với con nít trong cùng một căn phòng là anh hét lên rồi chạy ra khỏi phòng! Anh cứ sống trong địa ngục đó trong mấy mươi năm!

Trong buổi pháp dàm, sau khi anh nói được ra câu chuyện đó thì tôi bày cho anh phương pháp thực tập sám hối.

Sám hối không phải là chuyện dễ, phải thay cái tâm mới được. Mà phải thay cái tâm bằng những phương pháp rất là cụ thể. Hối hận không đủ để thay tâm. Thành ra tôi chỉ cho anh ta một phương pháp để khai mở cho anh. Tôi hỏi:

–  Có phải là anh đã giết năm, sáu đứa trẻ trong ngày hôm đó không?

–  Dạ phải.

–  Bây giờ anh có cách nào làm cho năm sáu đứa trẻ đó sống lại được hay không?

–  Dạ không!

–  Anh có biết rằng trong giờ phút anh đang nói chuyện với tôi đây, con nít đang tiếp tục chết khắp nơi trên thế giới không? Có những đứa chết vì chiến tranh, có những đứa chết vì thiếu dinh dưỡng, có những đứa chết vì ăn phải chất độc. Chúng đang chết ngay trong giờ phút hiện tại. Anh không lo cho chuyện con nít chết trong giờ phút hiện tại mà anh chỉ lo buồn cho năm đứa con nít đã chết cách đây 15 năm, có phải vậy là vô minh hay không? Bây giờ anh còn thân hình của anh đó, anh còn trái tim của anh đó, anh có thể làm rất nhiều điều để có thể cứu được rất nhiều con nít đang chết trong giờ phút hiện tại, tại sao anh không làm mà anh giam mình ở trong cái mặc cảm tội lỗi kia?

Có những đứa bé chỉ cần có hai viên thuốc thôi là nó có thể sống sót qua cơn bệnh, và hai viên thuốc đó đôi khi chỉ có trị giá độ chừng 20 xu Mỹ thôi. Nếu anh có thì giờ, nếu anh có trái tim, nếu anh có trí tuệ thì mỗi ngày anh có thể cứu được nhiều đứa trẻ như vậy, tại sao anh không làm? Anh nên phát tâm Bồ đề, anh phải phát tâm thương yêu của anh, anh nên dùng những tháng ngày còn lại của anh để làm chuyện đó. Anh có thể cứu được hàng trăm, hàng ngàn đứa con nít. Mình phải khai mở ra cho người ta thấy được con đường trước mặt.

Người cựu chiến binh đó đã đi theo con đường tôi chỉ. Ông đã phát nguyện, phát tâm Bồ đề, tâm hiểu biết tâm thương yêu để đi cứu những đứa con nít giờ này đang chết ở khắp nơi trên thế giới. Chính nhờ vậy mà người đó đã đạt tới sự chuyển hóa và sống an lạc.

Cho nên phương pháp sám hối của chúng ta không phải là xưng tội, dù xưng tội với Bụt. Phương pháp sám hối của chúng ta là thay cái tâm, cái tâm u mê đã làm sinh ra vọng nghiệp về thân, về khẩu, về ý. Thay tâm u mê đó thành tâm hiểu biết, tâm Bồ đề, tâm thương yêu. Khi mình đã làm sống dậy được tâm thương yêu, tâm Bồ đề nơi con người đó rồi thì cái mặc cảm của mình bắt đầu tiêu tan, mình bắt đầu có sự vui sống.

Trong bài kệ sám hối của vua Trần Thái Tông, nhà vua cũng nói vậy:

Tội trùng tâm khởi, trùng tâm sám, những lỗi lầm từ tâm mà sinh ra và nó cũng từ tâm mà tiêu diệt đi. Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong. Nếu cái tâm tội lỗi đã tiêu diệt, thì tội lỗi theo đó mà tiêu diệt luôn. Thị tác danh vi chân sám hối, Tội vong tâm diệt lưỡng cấu không. Đó gọi là sám hối chân thật.

Phương pháp sám hối của Trần Thái Tông là như vậy. Đọc bài tựa Bình Đẳng Sám Hối Văn chúng ta thấy Trần Thái Tông thực hiện sám hối trong tinh thần đó. Hãy nghe vua nói ở trong bài tựa:

Pháp tánh như không vướng một mảy may miệng lưỡi. Chân nguyên lẳng lặng xưa nay vốn tuyệt dứt sự ô nhiễm của tư duy. Chỉ vì pháp tính và chân nguyên bị che lấp, cho nên vọng duyên đã phát khởi và huyễn thể đã hình thành. Nhược thức vì vậy đã che đi cả vầng trí tuệ tròn sáng. Gia tài của ta tan nát chỉ vì sự hiển bày của tham dục sáu căn. Nếu ta chấp nhận được giáo pháp thanh tịnh thì có thể rửa sạch được mọi tư duy ô nhiễm mà phát tâm nhất chân bình đẳng.

Tất cả những tư duy ô nhiễm của chúng ta nó tạo ra những hành động ô nhiễm. Nếu chúng ta thay đổi được cái tư duy ô nhiễm bằng cái tư duy của trí tuệ thì tất cả mọi hành động và mọi ngôn ngữ sẽ thanh tịnh.

Giữa chúng sinh và Phật có một cái bình đẳng, đó là nơi Bụt có tâm nhất chân bình đẳng, mà nơi chúng sanh cũng có tâm nhất chân bình đẳng. Nếu ta dùng con mắt sáng, quay trở lại nhìn vào con người của ta thì ta động tới, ta khám phá được cái tâm nhất chân bình đẳng đó. Khi động tới được nó thì cái hiểu biết, cái thương yêu sẽ bừng dậy và tất cả những tội lỗi sẽ không còn.

Trong đời Trần nước ta có hai vị thiền sư cư sĩ rất nổi tiếng, đó là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ. Đây là một điểm đặc biệt của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta thường nghe nói đến Trần Thái Tông như là một ông vua, ít khi nghe người ta nói tới ngài như là một vị thiền sư. Sự thật thì Trần Thái Tông đã đóng vai trò của một vị thiền sư, đã giảng dạy trực tiếp về thiền và có khi giảng dạy luôn cho các vị xuất gia, nhất là vua dạy cho con mình là Trần Thánh Tông.

Đại Tham, Tiểu Tham Và Thiền Sư Trần Thái Tông

Ở viện Tả Nhai, ở chùa Tân Giáo, thiền sư Thái Tông thường mở những buổi gọi là Đại tham, nghĩa là những buổi gặp gỡ để các thiền sinh có thể chất vấn thầy về những đề án thiền tập, nhất là để cho thầy chất vấn thiền sinh.

Trong thiền môn chúng ta có hai truyền thống gọi là Tiểu tham (Small consultation) và Đại tham (Big consultation).

Tiểu tham là sự gặp gỡ giữa mình với thiền sư, hoặc giữa một vài anh em mình với thiền sư. Sự gặp gỡ đó có thể là 10 phút, 15 phút, hay chỉ một hai phút, khi thầy trò gặp nhau ở sân chùa hay ở một chỗ nào đó, và mình có cơ hội tham vấn thầy một câu, hoặc thầy có cơ hội hỏi mình một câu. Những lợi lạc như vậy nó xảy ra trong khi mình sống chung với thầy, với đại chúng. Rất nhiều người nhờ cơ hội có những buổi tiểu tham mà được chứng ngộ. Được hỏi thầy một câu, hay được thầy hỏi một câu rất bất ngờ, nó có thể làm bật tung một cái nút của một cơ chế có sẵn trong tâm của mình. Tiểu tham đó có thể xảy ra trong nhà bếp hay ngoài vườn rau.

Đại tham là một buổi gặp gỡ có sắp đặt trước và là một sinh hoạt quan trọng trong thiền môn. Khi tiếng khánh thỉnh lên ba hồi, đại chúng vào thiền đường làm đại tham. Đôi khi trong buổi đại tham, có những sinh hoạt gọi là xuất trận, tức là ra trận. Một sống một chết! Bắt đầu, vị thiền sư hỏi: Có ai là người anh hùng hào kiệt, dám trình diện lên đây không? Có thể có một vị trong chúng nói: Dạ con! Rồi đứng lên để chịu trận. Thầy sẽ hỏi một câu và hoặc mình nắm được, hoặc mình trượt. Vì vậy mà gọi là xuất trận.

Sách Khóa Hư có ghi rằng: Một hôm có vị xuất gia bên nhà Tống tên là Đức Thành đến phỏng vấn Thái Tông. Nhà vua đã trả lời với tư cách của một thiền sư. Hôm đó, cùng ngồi trong hội chúng, thầy Đức Thành đã hỏi Thái Tông rằng:

–   Chưa thoát ly và chưa xuất thế thì còn mong được chỉ dẫn. Nhưng khi mình đã thoát ly, đã xuất thế rồi thì như thế nào? Thái Tông bèn đáp bằng hai câu thơ:

Mây sinh đỉnh Nhạn toàn màu trắng. Nước bến Tiêu Tương một sắc thanh.

Đó là ngữ phong của một thiền sư. Đỉnh Nhạn tức là một đỉnh núi cao, Tiêu Tương là một con sông nổi tiếng.

Một vị xuất gia khác đứng dậy hỏi:

–   Xưa nay không có nhiều con đường khác nhau, tất cả những cái đạt ngộ đều đi chung một lối về. Vậy thì bệ hạ có nghĩ rằng người tìm ra được con đường đó chỉ là một mình đức Thế Tôn mà thôi hay không? Ngoài đức Thế Tôn còn có ai đã tìm ra được con đường đó? Vua trả lời:

Mưa Xuân tuy không phân biệt cao, thấp, Nhưng cành Xuân thì có cành thấp, cành cao.

Vua lại cũng trả lời bằng hai câu thơ! Có nghĩa là mưa mùa Xuân thì nó không phân biệt, không nói là tôi không thấm ướt cành này, tôi không nên thấm ướt cành kia. Mưa Xuân có tính cách không phân biệt. Nhưng cành Xuân thì có cành thấp cành cao, cành cao thì tiếp nhận mưa Xuân trước, rồi cành thấp mới tiếp nhận mưa Xuân sau.

Nguồn Gốc Thiền Ngữ Và Thi Ca Trong Thiền Học

Chúng ta biết rằng thiền phái Vân Môn và giáo huấn của thiền sư Tuyết Đậu đã thâm nhập vào Việt Nam từ đời nhà Lý. Từ ngày thiền sư Thảo Đường thiết lập thiền phái Thảo Đường tại Đại Việt thì trong giới thiền môn người ta bắt đầu dùng rất nhiều những thiền ngữ, những thi ca. Trước đó cũng có áp dụng thiền ngữ và thi ca, nhưng đến thời thiền phái Thảo Đường thành lập ở Đại Việt thì cái “mốt mới” đó lan ra rất nhiều và các thầy thời bấy giờ chỉ dạy học trò bằng thi ca mà thôi. Mỗi khi học trò hỏi điều gì là thầy trả lời bằng hai câu thơ! Những thiền ngữ mà chúng ta thấy các thiền sư đời Lý sử dụng, có rất nhiều thực chất. Ví dụ có một vị thiền sư ở trên núi, một hôm nhà vua đến thăm và hỏi: Thiền sư ở đây mấy năm rồi? Thiền sư mỉm cười nói rằng:

Đãn tri kim nhật nguyệt, Hà thức cựu Xuân Thu.

Nghĩa là: Tâu bệ hạ, sống thì mình chỉ để ý đến giây phút hiện tại, sống một cách rất sâu sắc trong giờ phút đó thôi, tại sao mình phải đếm là mình đã ở đây mấy năm rồi? Tại sao mình phải để ý đến quá khứ, đến tương lai?

Ta có thể tạm dịch hai câu trên như sau:

Sống ngày nay biết ngày nay, Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì?

Câu trả lời cũng là hai câu thơ!

Như vậy có nghĩa là trước khi thiền phái Thảo Đường được thiết lập, các thiền sư của chúng ta cũng đã dùng những câu thơ, những hình ảnh thi ca trong ngôn ngữ truyền đạt ở thiền gia. Nhưng từ khi thiền sư Thảo Đường thiết lập thiền phái đó thì sự sử dụng ngôn ngữ thi ca nhiều hơn, và có khi người ta đi quá xa, cái gì cũng thơ hết. Đôi khi không có thực chất mà cũng nói ra bằng một câu thơ!

Trong trường hợp Trần Thái Tông thì ban đầu nhà vua cũng sử dụng thi ca trong ngôn ngữ thiền tập của mình. Nhưng sử dụng ít thôi, và trong đó có rất nhiều chất lượng của sự giác ngộ.

Công Án Của Thiền Sư Trần Thái Tông

Sau khi chịu ảnh hưởng phái Lâm Tế, và những tác phẩm như Bích Nham Lục, thì vua bắt đầu sử dụng phương pháp thiền công án. Chính vua đã làm ra bốn mươi mấy công án, mở đầu bằng Cử, đến Niêm, rồi đến Tụng mà chúng ta đã học trước đây.

Tôi nhắc qua những danh từ này. “Cử” là đưa công án ra, “Niêm” là cầm công án đó mà nhìn cho kỹ, và “Tụng” là đưa ra một bài tụng để giúp người thiền sinh có cơ hội chót mà hiểu được nội dung của công án đó.

Chúng ta hãy xét qua bài kệ mà vua Trần Thái Tông đã làm để nói lên cái kiến giải của mình sau khi đã chiêm nghiệm đề tài gọi là Sắc thân. Sắc thân tức là hình hài của mình. Đây cũng là một bài giáo huấn, và là một đề tài quán chiếu về cái hình hài của mình. Bài này còn được giữ lại nguyên vẹn, tựa là Phổ Thuyết Pháp Thân, tức là nói một cách rộng rãi về hình hài của mình để mình tham khảo và nghiên cứu.

Trong kinh Nam tông cũng như Bắc tông, sắc thân của mình là một chủ đề thiền quán rất là quan trọng. Người ta nói quán chiếu tâm của mình là tu, nhưng kỳ thật quán chiếu thân của mình cũng là tu. Chúng ta nhớ một hôm có một vị thiên tử tên là Mã Huyết Thiên Tử, Rohitassa, tới thăm Bụt ở vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Lúc đó các thầy đã đi ngủ hết vì Mã Huyết Thiên Tử tới thăm Bụt vào lúc khuya.

Mã Huyết Thiên Tử hỏi rằng: “Bạch đức Thế Tôn có cách nào mà mình có thể vượt thoát khỏi cõi đầy đau khổ, sinh tử, còn mất này hay không? Có thể nào mình dùng phương pháp di chuyển để có thể vượt ra khỏi ranh giới của cõi sanh, tử này hay không?” Nghĩa là nếu mình đi thật mau, mình dùng một phi thuyền hoặc một phương tiện thần thông để đi thật mau, thì có thể trong 100 năm hay 200 năm, mình có thể ra khỏi ranh giới của cõi sanh, tử này hay không.

Bụt nói: “Chúng ta không thể nào hy vọng vượt khỏi ranh giới của cõi sinh tử này bằng cách di chuyển, dù mình có đi nhanh bằng tốc độ của ánh sáng mặt trời”.

Vị thiên tử bèn lạy xuống và nói: “Đức Thế Tôn nói đúng quá, con nhớ lại trong một kiếp trước con có pháp thuật và con đã quyết tâm vượt khỏi cảnh giới đau khổ này. Con đã dùng pháp thần thông đó con đi ngày đêm, đi mà không để giờ dừng lại ăn cơm hay uống nước, hay để ngủ, và con đã đi suốt 100 năm như vậy, nhưng rốt cục con chết mà con vẫn không ra khỏi cõi sanh tử này! Vì vậy cho nên Thế Tôn nói rất đúng, chúng ta không thể nào vượt thoát khỏi cõi khổ đau sanh tử này bằng cách di chuyển”.

Bụt mỉm cười và nói thêm: “Nhưng đó không có nghĩa là chúng ta không thể nào vượt thoát được thế giới sanh tử. Nếu quay con mắt tuệ của chúng ta, quán chiếu vào hình hài của chúng ta một cách sâu sắc, thì chúng ta sẽ tìm thấy cõi không sinh tử”.

Cõi không sinh tử nằm ngay trong thân xác của chúng ta. Vì vậy cho nên quán thân thể của mình có thể đưa tới sự giải thoát sinh tử. Khi kinh Duy Ma Cật xuất hiện, chúng ta thấy có hai câu rất hay: “Quán thân thật tướng, Quán Phật diệt nhiên”. Sau này Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng đem hai câu này ra để làm công án.

Quán thân thật tướng tức là nhìn sâu vào thật tướng của hình hài mình, và khi quán Phật, mình cũng quán như vậy. Diệt nhiên có nghĩa là cũng như vậy. Tại vì thật tướng hình hài của mình cũng là Phật tướng. Chúng ta thường nói thân này là vô thường, là vô ngã, bất tịnh, đầy máu, đầy mũ, đầy chất dơ. Nhưng chính trong cái hình hài vô ngã, vô thường và bất tịnh đó mà ta có thể tiếp xúc được với Phật tính, tiếp xúc được với thế giới của không sinh, không diệt, không còn, không mất.

Phổ Thuyết Sắc Thân có nói tới hình hài của mình, có nói tới tính cách vô thường, vô ngã, bất tịnh của hình hài mình, nói tới sự bám víu, sự ghì chặt của mình đối với hình hài của mình. Trần Thái Tông cũng có nói rằng hình hài của mình là một cơ hội rất lớn. Được sinh ra làm người, đó là một điều rất may mắn. Được sinh ra trong một môi trường có văn hóa, là một điều may mắn lớn hơn. Được sinh ra trong một môi trường văn hóa và được tiếp xúc với giáo lý của đạo Bụt, là một điều may mắn lớn hơn nữa. Nếu mình không nắm cơ hội đó thì mình sẽ trầm luân muôn kiếp.

Vì vậy vua cũng thấy rõ ràng cái hình hài của mình tuy nó là vô thường, vô ngã, bất tịnh, nhưng cái hình hài của mình là một cơ hội rất lớn. Thành ra không phải có sự khinh nhờn, xua đuổi, mà phải có sự trân quý, thì mới đúng theo tinh thần của Bụt dạy. Hình hài của chúng ta, nếu chúng ta biết trân quý nó, nếu chúng ta biết sử dụng nó, biết quán chiếu vào nó thì chúng ta có thể tiếp xúc được với chân tính của chúng ta, và với Phật tính của chúng ta. Chúng ta giải thoát được là nhờ sự quán chiếu hình hài đó.

Trong kinh Nam tông cũng như Bắc Tông đều có những kinh dạy về phương pháp quán chiếu hình hài. Đó là những kinh như kinh Thân Hành Niệm. Kinh Thân Hành Niệm có trong Trung A Hàm, mà cũng có trong Majjhima Nikaya. Ngay trong kinh Niệm Xứ chúng ta cũng thấy có một đoạn rất quan trọng, nói về sự quán niệm thân thể trong thân thể.

Trước hết chúng ta dùng hơi thở để trở về với thân, để biết rằng thân ta có đó. Tức là chúng ta trở về làm quen lại với thân thể của chúng ta. Rồi chúng ta làm quen với tất cả các bộ phận của cơ thể như là hai mắt, hai tay, lỗ mũi, cái miệng, lá phổi, lá gan của ta. Chúng ta phải trở về làm quen với 30 bộ phận của cơ thể [1].

Trong tư thế ngồi hay nằm, chúng ta thở vào, thở ra, nhận diện từng bộ phận và mỉm cười với chúng. Đó là những điều Bụt dạy trong kinh Thân Hành Niệm. Chúng ta thở vào, thở ra và nhận diện sự có mặt của yếu tố đất trong thân thể ta, thấy rằng thân thể ta được làm bằng yếu tố đất. Rồi nhận diện yếu tố nước trong cơ thể, nhận diện yếu tố lửa trong cơ thể, yếu tố không khí trong cơ thể. Rồi yếu tố không gian trong cơ thể. Cuối cùng là tới yếu tố tâm thức trong cơ thể. Địa, thủy, hỏa, phong, không, rồi thức.

Bụt dùng một hình ảnh rất đơn sơ để giải thích cách nhận diện này. Ví như có người đồ tể giết một con bò, rồi bày ra bán ở ngã tư chợ. Nói rằng đây là cái đầu của con bò, đây là bắp chân của con bò, đây là lưng của con bò, đây là cái đùi của con bò. Phân biệt rõ ràng như thế đó.

Người tu thiền cũng vậy, nói rằng đây là yếu tố lửa trong cơ thể tôi, đây là yếu tố đất trong cơ thể tôi, đây là yếu tố nước trong cơ thể tôi, đây là yếu tố không khí trong cơ thể tôi. Thấy một cách rõ ràng, rành mạch như vậy.

Rồi tiếp tục quán chiếu rằng khi cơ thể của mình đứng thì mình biết rằng cơ thể mình đang ở tư thế đứng. Khi cơ thể mình ngồi thì mình biết rằng cơ thể của mình đang ở tư thế ngồi. Đi, đứng, nằm, ngồi, ngẩng lên, cúi xuống, đó là những tư thế của thân thể, mình phải nhận biết.

Rồi mình phải quán chiếu những động tác của cơ thể, khi làm gì thì mình ý thức về cái đó. Mở cửa thì mình biết mình đang mở cửa. Đóng cửa thì mình biết mình đang đóng cửa. Nằm xuống thì mình biết mình đang nằm xuống, đứng dậy, biết là đang đứng dậy, đi là biết mình đang đi. Tất cả những cái đó đều thuộc phạm vi quán niệm thân thể trong thân thể.

Trần Thái Tông có nói rằng vì chúng ta vô minh, vì chúng ta không tiếp xúc được với sự thật và nguồn gốc, cho nên chúng ta chỉ tiếp xúc được với mặt hư ngụy của cơ thể ta, mà không tiếp xúc được với gốc rễ và mặt chân chính của cơ thể. Vong chân, vong bản, hiện ngụy, hiện hư, tức là quên cái chân lý, quên cái nguồn gốc cho nên mới hiện ra cái hư và cái ngụy. Chúng ta có hình hài, thì chúng ta hãy nắm lấy hình hài đó. Nắm không phải là để mà bị kẹt vào trong hình hài đó, mà để quán chiếu về sự thật của hình hài đó.

Khi thực tập ba cái lạy, chúng ta cũng quán chiếu về hình hài, vì hình hài của chúng ta rất là quan trọng. Người ta thường nói tu là tu cái tâm, nhưng kỳ thực là phải tu cái thân nữa. Khi lạy xuống cái lạy thứ nhất, chúng ta thấy rằng hình hài của ta nó chứa đựng hình hài của cha mẹ ta. Trong tư thế nằm, ngồi hay trong tư thế lạy xuống, chúng ta phải thấy cho được rằng cái hình hài của ta nó đang chứa đựng hình hài của cha ta và của mẹ ta. Chuyện này không khó gì cả. Chuyện này một em bé cũng có thể hiểu được và làm được. Mình thấy cha mình, và mẹ mình đang có mặt trong cơ thể của mình.

Đứng về phương diện khoa học, đứng về phương diện hoàn toàn vật chất và sinh lý, điều đó ta đã thấy rõ. Đi sâu hơn nữa, chúng ta thấy ông bà và tổ tiên của chúng ta đang có mặt ở trong ta, và cái hình hài này là rất mầu nhiệm. Cái hình hài này nó chứa đựng tất cả tổ tiên, dòng họ, cha mẹ và nó chứa đựng luôn cả vũ trụ. Nó chứa đựng trăng, sao, sông, núi của ngàn đời. Cho nên chúng ta chỉ cần tiếp xúc với cơ thể của chúng ta một cách sâu sắc là chúng ta tiếp xúc được với thực tại mầu nhiệm của cả vũ trụ.

Như vậy thì trong ta có trăng, có nước, có mây, có trời, có đất, có cha, có mẹ, có tổ tiên, ông bà. Chúng ta đi tìm những cái đó ở đâu nữa? Chúng ta chỉ cần ngồi xuống, chỉ cần lạy xuống là chúng ta có thể tiếp xúc với tất cả những cái đó ở trong ta.

Cơ thể của ta là một cơ hội lớn, cho nên nhìn vào trong thân thì thấy được Pháp tánh và Phật tánh. Vì vậy mà bảo trọng thân thể ta là cũng để bảo trọng thân thể của tất cả. Thân thể của chúng ta tuy một mặt nó bất tịnh, nó vô thường, nhưng mặt khác nó quý trọng vô cùng. Chính nhờ thân thể này mà ta đạt được đạo. Trần Thái Tông đã thấy được điều đó, đã thấy tính cách vô thường, vô ngã, giả dối của thân thể, nhưng Trần Thái Tông cũng đã thấy được sự quý giá vô cùng của cơ thể.

Làng Mai có nhiều cách để bảo trọng thân thể. Trước hết ta có thể bảo trọng thân thể bằng ba cái lạy. Khi lạy xuống cái lạy đầu tiên, ta thấy rằng cơ thể ta chứa đựng tất cả tổ tiên cũng như tất cả thế hệ tương lai, và ta thấy cơ thể ta rất là lớn, nó đã từng có trong quá khứ, và sẽ tiếp tục có trong tương lai. Ngày sanh và ngày chết của chúng ta không phải là hai mức đánh dấu sự sinh ra và sự chấm dứt của cơ thể này. Mình thấy được cơ thể ngoài cơ thể, thân ngoại thân. Người tu phải thấy cho được cơ thể mình ngoài cơ thể mình. Nếu cái lạy thứ nhất và cái lạy thứ hai thành công thì cái lạy thứ ba rất dễ thành công.

Lạy thứ ba là buông bỏ ý niệm rằng ta chỉ là cơ thể này. Tuy cơ thể này mầu nhiệm vô cùng. Qua cơ thể này ta có thể tiếp xúc với tập thể của vũ trụ, nhưng cơ thể này chỉ là một biểu hiện trong muôn ngàn biểu hiện của thực tại mầu nhiệm đó. Cho nên nếu kẹt vào trong cơ thể này thì chúng ta mất mát rất nhiều, mất gần hết. Vì vậy tuy cơ thể này mầu nhiệm như vậy nhưng chúng ta vì đã thấy được cơ thể của chúng ta ngoài cơ thể của chúng ta, cho nên chúng ta vượt thoát được sự lo lắng, sợ hãi, và buông bỏ được ý niệm về hình hài này. Lúc đó mình bắt đầu thấy được tự tánh của cơ thể. Mình tìm tới được cái chân và cái bản, mình bỏ được cái ngụy và cái hư. Quên chân, quên gốc, hiện dối, hiện hư, là tám chữ ở trong kinh Phổ Thuyết Sắc Thân.

Thiền của Trần Thái Tông dạy và thực tập không phải là thiền Tiểu thừa. Tuy có nói tới tính cách vô thường, vô ngã, bất tịnh của cơ thể, nhưng cũng có nói tới cái mầu nhiệm vô cùng của cơ thể. Nhà vua chịu ảnh hưởng của thiền quán Lâm Tế cho nên Trần Thái Tông đã tham chiếu Công án Vô Vị Chân Nhân.

Kế đến là bảo trọng thân thể bằng công án. Vô Vị Chân Nhân là một công án rất nổi tiếng. Chân nhân tức là con người thật. Vô vị tức là không có một vị trí rõ rệt. Vô vị chân nhân là ngoài hình hài, thân ngoại thân. Thầy Thái Hư là một thầy rất nổi tiếng của Phật giáo Trung Hoa cận đại. Thầy có tới thăm Saigon. Thầy tịch cách đây mấy mươi năm rồi, thầy có làm một bài thơ trong đó có hai câu:

Mộng trung ngộ mộng trùng mây mộng, Thân ngoại tri thân khước thị thân.

Có nghĩa là ở trong mộng mà mình biết là mình đang mộng thì vẫn còn đang mộng như thường. Khi nhận ra cái thân ở ngoài thân mình là thân mình, lúc đó mình mới nắm được cái thân chân thật. Cho nên kẹt vào ý niệm hình hài này là ta thì chúng ta không tiếp xúc được với cái chân thân của chúng ta.

Thiền sư Lâm Tế đã nói rằng: Phép lạ là đi trên mặt đất. Mùa Xuân năm nay có một số vị ở Làng Mai cùng đi với tôi tới chùa Lâm Tế ở tỉnh Hà Bắc, và đã đi thiền hành trên mảnh đất của chùa Lâm Tế, rất nhớ lời của thiền sư dạy “phép lạ là đi trên mặt đất”, cho nên thầy trò đã đi rất chánh niệm trong vườn chùa Lâm Tế. Phép lạ không phải là đi trên mây hay trên mặt nước, phép lạ là đi trên mặt đất, đi để thấy tất cả đều là mầu nhiệm trong giây phút hiện tại.

Một hôm trong một buổi đại tham, thiền sư Lâm Tế đã tuyên bố rằng: Này đại chúng, có một con người thật, nó thường hay ra vào trên đống thịt đỏ đỏ trắng trắng này mà chúng ta gọi là ta. Quý vị có biết người thật đó là ai không? Là Vô vị chân nhân.

Tất cả đại chúng ngồi im phăng phắc. Đó là một công án vừa được đưa ra! Thầy nói thêm: Người nào không hiểu thì tới hỏi ông thầy tu già này (Lão tăng). Có một thầy đứng lên nói: Bạch thiền sư, con người thật không có vị trí đó là ai, xin thiền sư chỉ dạy. Thì thầy nói: Vô vị chân nhân là cái cứt khô gì đâu! Tức là ngài rất thất vọng! Từ đó Vô vị chân nhân trở thành một công án. Con người thật không có vị trí, là đối tượng của sự tìm kiếm mà mình phải tiếp xúc với hình hài của mình, cái hình hài vừa bất tịnh, vừa hư giả, vừa vô thường của mình để tìm ra nó, để tiếp xúc với nó.

Kiến Giải Của Vua Về Công Án Vô Vị Chân Nhân

Cuối bài Phổ thuyết sắc thân vua Trần Thái Tông có bốn câu để nói lên cái kiến giải, cái thấy của mình về công án Vô vị Chân nhân:

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn – Xích là màu đỏ; nhục là thịt; đoàn là một đống, một khối. Con người thật không có vị trí là một đống thịt màu đỏ.

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man – Nên nhớ chữ Hán hồng là đỏ (Red) còn tiếng Việt hồng là Pink. Bạch là trắng; mạc tương man là ba chữ rất quan trọng của bài này. Mạc là đừng; tương là nhau; man là lừa dối – Xin đừng lừa dối nhau! Đừng cho nhau tri giác sai lầm mà tội nghiệp nhau.

Thùy tri vân quyện trường không tỉnh – Thùy là ai, tri là biết. Có ai biết rằng khi mây đã cuộn lại rồi, tức là mây không giăng ra, giống như chúng ta cuốn chiếc chiếu hay tấm sáo lại. Trường không tức là không gian rộng lớn; tỉnh là im lặng. Tức là lúc đó không có sấm, không có chớp, không có mây, không có mưa. Trời rất sáng, rất trong. Ai biết rằng mỗi khi mây đã cuốn lại và trời trong, yên tĩnh rồi thì:

Thúy lộ thiên biên nhất dạ sang – Chữ thúy ở đây có nghĩa là màu xanh biếc; lộ là hiện ra; thiên biên là bên trời, ở chân trời; nhất dạ sang là một dáng núi, sang là núi. Có ai biết rằng khi mây mù đã được cuốn lại, không gian mênh mông, trong sáng và yên tĩnh, thì ở chân trời xanh biếc, hiện ra dáng dấp của một ngọn núi. Đó là cái thấy của Trần Thái Tông. Rất là thi ca.

Đây là bản dịch của Nguyễn Lang:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au, Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau, Ai hay mây cuốn trời quang tạnh,Hiện rõ bên trời dáng núi cao (hay: Xanh thẳm bên trời dáng núi cao).

Đó là bốn câu thơ nói lên cái thấy của Trần Thái Tông sau khi tham khảo đề án Vô vị chân nhân và về cái hình hài của mình. Mời các sư cô, sư chú mỗi người làm một bài kệ kiến giải về cái thấy của mình.

Chúng ta có thể đánh giá được, có thể thấy được trình độ tri kiến của Trần Thái Tông khi đọc bốn câu thơ trên đây của ngài.

Nếu sống không có chánh niệm, không có thì giờ, nếu chúng ta bị lừa, nếu chúng ta lận đận thì “cái ta đích thực” của ta là khối thịt đỏ au này, là cái hình hài vô thường, vô ngã và bất tịnh này. Nếu chỉ lo tô điểm, chăm sóc, chỉ lo bám víu lấy cái hình hài đó, thì chúng ta không có dịp thấy được bản chất con người thật của chúng ta.

Hãy tưởng tượng có một đợt sóng xuất hiện trên mặt nước đại dương, đợt sóng đó có một cuộc đời rất ngắn ngủi. Trong đời sống đó có đầy những lo sợ, giận hờn, ganh tị đối với những đợt sóng chung quanh, thì thử hỏi còn gì là đợt sóng nữa? Ngược lại nếu đợt sóng đó quay trở về tiếp xúc được với tự tánh của mình là nước, thì đợt sóng đó sẽ vượt thoát tất cả những biên giới, những giận hờn, lo sợ, ganh tị, và đợt sóng thấy được cái tính không sinh không diệt, không có không không của mình.

Như vậy đối với đợt sóng, nước là con người thật của sóng. Khi sóng không biết được con người thật của sóng thì sóng sẽ sống một cuộc đời ngắn ngủi với nhiều lo lắng, buồn khổ, ganh tị đối với những đợt sóng khác.

Cho nên khi lạy xuống cái lạy thứ ba, chúng ta phải thấy chúng ta là đợt sóng rất là mong manh, rất là vô thường. Trong cái lạy thứ ba đó, làm thế nào để tiếp xúc được với tự tánh, với con người thật của mình, thì tự nhiên những cái lo lắng, sợ hãi nó tan biến đi. Nếu chúng ta thực tập cái lạy thứ nhất và thứ hai cho đàng hoàng thì tới cái lạy thứ ba chúng ta có thể tiếp xúc được với con người thật của chúng ta. Vô vị chân nhân nó vượt thoát thời gian và không gian. Con người của chúng ta không bị giới hạn bởi cái hình hài, hay bởi một khoảng thời gian bảy mươi hay tám mươi năm.

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man, đừng có lừa dối nhau. Chính sự giác ngộ của Trần Thái Tông nằm ở chỗ đó, ngài thấy và không bị cái hình hài nó đánh lừa mình.

Vua Thực Tập Công Án Bốn Núi

Bây giờ chúng ta thử xét cái công án thứ hai mà Thái Tông đã thực tập. Vua Trần Thái Tông đã thực tập rất tinh chuyên trong thời gian làm vua. Khi nhường ngôi lại cho con thì ngài có nhiều thì giờ hơn để tu học, và bắt đầu giảng dạy thiền tập, không những cho những người thân thích, những người cư sĩ, mà ngay cả một số các thầy cũng tới để học với vua nữa.

Đề tài của công án này là đề tài “Bốn núi” mà chúng ta đã nói đến trước đây: Núi sinh, núi lão, núi bệnh, và núi tử. Vua đã được đọc kinh về Bốn núi, kể lại chuyện Bụt nói với vua Ba Tư Nặc. Bụt nói bốn núi sanh, lão, bệnh, tử nó từ từ ép tới, chúng ta không còn thời gian, chúng ta không còn không gian nữa. Thử hỏi nếu bệ hạ biết bốn núi đó đang áp lại vây đảo, thì bệ hạ phải làm thế nào? Vua Ba Tư Nặc nói: Trong trường hợp đó con biết rằng con phải trân quý những giây phút còn lại, sống cho có chánh niệm, và sống theo chánh pháp. Đó là câu trả lời duy nhất mà con có thể có.

Câu trả lời đó đã khá lắm rồi, nhưng so với Trần Thái Tông thì Trần Thái Tông có một câu trả lời còn vĩ đại hơn. Tại vì Trần Thái Tông đã tham chiếu về tự tánh “không” của vạn pháp, trong đó có sinh, có lão, có bệnh, có tử.

Trong một bài pháp thoại trước đây, chúng ta đã nói về bài kệ Bốn núi của Trần Thái Tông. Bây giờ chúng ta nói tới bài kệ mà vua trình sau khi đã tham quán về đề tài Bốn núi.

Nếu chúng ta biết rằng bốn ngọn núi sinh, lão, bệnh, tử đang từ từ tiến tới dồn ép ta, không cho chúng ta thời gian và không gian nữa, thì chúng ta phải làm thế nào?

Chúng ta đã lớn tuổi, chúng ta đã bệnh, thời gian của chúng ta còn rất ít, không gian của chúng ta còn rất hẹp, vậy thì chúng ta phải cư xử như thế nào đối với bốn núi đó? Vua đã quán chiếu về bốn núi đó và cuối cùng đã đưa ra bài kệ rất hay sau đây. Nó cho chúng ta thấy được trình độ tu chứng của vua là khá cao.

Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng – Tứ sơn là bốn ngọn núi. Tùng ở đây không phải là cây tùng, mà là bụi cây, cây cối rậm rạp, như trong chữ tùng lâm. Tiễu (dấu ngã) có nghĩa là núi cao chót vót, lỡm chởm; bích tức là những chỗ, những vùng. Tiễu bích vạn thanh tùng là vùng núi cao chót vót có hàng vạn cây rừng xanh.

Liễu ngộ đô vô vạn vật không – Nhưng một khi ta đã thấy được sự thật, ta “liễu ngộ” thì ta nhận thấy rằng tất cả vạn vật đều là Không.

Hỷ đắc lư nhi tam cước tại – Hỷ là vui mừng; đắc là có được, tìm được; lư nhi là con lừa; tam cước tại là (một con lừa) ba chân đang có sẵn đó.

Mạch ky đã sấn thượng cao phong – Cao phong có nghĩa là đỉnh núi cao. Phong là đỉnh núi. Thượng, còn đọc là thướng, có nghĩa là trèo lên cao, vượt lên cao. Đây là một động từ, thượng cao phong tức là leo lên trên chóp núi. Ky là cỡi lên trên con lừa đó, nó có nghĩa là leo lên ngựa. Ky vốn đọc là kỵ, nhưng ở đây đọc là ky. Sấn là thừa dịp, là tiện lợi. Thừa dịp tiện lợi có con lừa ba cẳng, mình nhảy lên lưng nó, vượt lên trên đỉnh núi cao tột. Bốn núi cao chót vót và chung quanh rừng cây rậm rạp. Bốn núi chúng ép nhau, đàn áp nhau để tiêu diệt mình. Nhưng khi ta đã liễu ngộ rồi thì ta nhận ra rằng cái tự tánh của vạn pháp đều là không, thành ra ta không còn sợ nữa.

Tất cả chìa khóa của bài kệ này nằm ở chỗ “Liễu ngộ đô vô vạn vật không”. Chúng ta biết sự thực tập quán chiếu là để vượt thắng những ý niệm. Ý niệm về sinh, về tử, về có, về không, về tới, về đi, về một, về nhiều.

Chúng ta đã nghe nhiều lần Tâm Kinh Bát Nhã, chúng ta biết rằng sinh là một ý niệm, tử là một ý niệm khác. Trong khi lạy cái lạy thứ ba chúng ta cũng thấy được rằng ta chưa bao giờ từng sinh, và ta sẽ không bao giờ từng diệt. Nếu mình bị lừa, nếu mình bị cái hình hài, cái đống thịt màu đỏ, màu trắng này lừa, thì mình có thể nghĩ rằng mình đã sinh ra năm 1948, hay 51, và mình sẽ chết đi năm 2020, hay 2030. Và mình thấy cái hình hài này, cái thọ mạng của mình chỉ là bảy, tám chục năm, thì mình bị lừa, mình bị lầm to! Tại vì mình bị kẹt vào cái ý niệm sinh và ý niệm chết.

Nhưng khi mình biết tiếp xúc với hình hài của mình, và nếu mình tiếp xúc được với cái chân thân, với con người thật của mình, thì mình thấy ngoài thân này, mình còn có những thân khác. Thân của tổ tiên, thân của con cháu cũng là thân mình. Thân của các vị Bồ tát đã thành đạo trong giờ phút hiện tại cũng là thân mình, thân của những chúng sanh đang khổ đau cũng là thân mình. Vì vậy mình thấy mình chưa bao giờ từng sinh, và chưa bao giờ từng diệt. Tại vì trong đầu của chúng ta, chúng ta cứ đinh ninh rằng sinh là từ không mà trở thành có, và diệt là từ có mình trở thành không. Nhưng khi quán chiếu vạn vật thì mình sẽ thấy không bao giờ từ không mà một cái gì nó trở thành có.

Ví dụ như tờ giấy này đây. Bây giờ chúng ta nghĩ nó đang có, nghĩa là trước kia nó chưa có. Từ cái không mà có tờ giấy. Nhưng làm sao từ không mà có tờ giấy được? Trước đó phải có cây, rồi có người đốn cây, xay gỗ ra thành bột giấy. Có bột giấy đó mới làm thành tờ giấy được, vì vậy cho nên trước khi tờ giấy có mặt thì nó đã có mặt dưới hình thức của một thân cây. Mà trước khi cây xuất hiện thì đã có hạt cây, và trong cây có mưa. có nắng, có thời gian, có không gian, có tâm thức.

Do đó cái tự tánh của tờ giấy này là vô sinh. Tờ giấy này chưa bao giờ từng sinh hết. Chúng ta không bị tờ giấy này đánh lừa, tại chúng ta quán chiếu và tiếp xúc được với tờ giấy thật. Tờ giấy thật không có vị trí. Nhìn cây, chúng ta có thể thấy tờ giấy. Nhìn ánh sáng, chúng ta cũng có thể thấy tờ giấy.

Cũng như khi nhìn tờ giấy chúng ta có thể thấy cây, thấy ánh sáng. Chỉ cần tiếp xúc một cách sâu sắc với tờ giấy này là chúng ta tiếp xúc được với vũ trụ, với ánh sáng mặt trời, với đại địa, với đám mây. Cho nên chúng ta thấy rằng tờ giấy này chưa bao giờ thực sự sanh ra cả. Nó chỉ có sự chuyển biến từ cây mà thành giấy thôi.

Cũng như khi mưa phát sinh, nó không phát sinh từ hư không. Nó phát sinh từ mây, nó có sự chuyển đổi từ mây mà trở thành mưa. Mưa không bao giờ có thể từ không mà trở thành có.

Quán chiếu như vậy chúng ta thoát khỏi ý niệm về sinh, chúng ta tiếp xúc được với cái vô sinh. Nếu tiếp tục quán chiếu như vậy thì chúng ta cũng có thể vượt thoát ý niệm về tử. Tử tức là từ một cái gì mà trở thành hư vô, từ một hình hài, trở thành không có hình hài.

Đó là quán chiếu của Bát Nhã, tức là tự tánh của sinh là Không, tự tánh của tử cũng là Không. Không sinh cũng không diệt, không có cũng không không. Đó là con người thật của mình. Phải tiếp xúc được với con người thật đó thì mới giải thoát.

Trần Thái Tông nhờ quán chiếu rằng bốn núi đó tuy là ghê gớm như vậy, tuy chúng bức ép mình như vậy, nhưng đó chỉ là những ý niệm mà thôi. Sinh, lão, bệnh, tử chỉ là những ý niệm. Không bị kẹt vào những ý niệm đó thì chúng không làm gì được ta cả.

Khi thấy được tự tánh không của tất cả những ý niệm đó rồi thì không còn sợ bốn ngọn núi đó nữa. Tại vì thấy mình đâu có sanh ra, và mình cũng sẽ không bao giờ chết đi. Cho nên tự nhiên mình có không gian thênh thang, mình có thời gian vô tận. Cũng như tự nhiên mình thấy mình vượt lên cao, bốn núi ở dưới, không làm gì được mình hết, tại vì chúng nó chỉ là ý niệm mà thôi.

Tuệ Trung Thượng Sĩ, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, cũng là một thiền sư tại gia, và cũng có cái thấy giải thoát như chú. Trong một bài thơ tựa là Phóng Cuồng Ca, Trần Quốc Tung tức Tuệ Trung Thượng Sĩ có một câu thơ chót rất hay:

Sinh tử tương bức hề, ư ngã hà thương?

Nghĩa là sự sống và sự chết chúng bức bách nhau làm chi? Chữ hề này là một tiếng đệm thôi. Tương bức là ép bức nhau. Ta thấy được mặt mũi chân thật của các ngươi rồi, cho nên các ngươi chẳng làm gì được ta cả. Ư ngã hà thương nghĩa là đối với ta, các ngươi làm thế nào mà động chạm tới ta được, không thể nào làm ta bị thương được.

Đó là cái thấy của người đã giải thoát. Người không sợ sinh, cũng không sợ tử, người biết rõ rằng sinh tử là hai ý niệm mà thôi, chứ không phải là thực tại. Khi chúng ta chưa tiếp xúc được với con người thật của chúng ta, với vô vị chân nhân, với con người không sinh không diệt, thì chúng ta chưa thể nào có thái độ đó được. Chúng ta vẫn còn sợ sinh, sợ tử, sợ lão, sợ bệnh.

Do đó mục đích của người tu là phải sống đời sống hàng ngày như thế nào cho chăm chú, cho sâu sắc, để có thể tiếp xúc được với con người thật của mình, được với cái vô vị chân nhân của mình, được cõi vô sinh, vô diệt, thì lúc đó mới có tự do lớn. Có tự do lớn rồi thì hạnh phúc mới thật sự là hạnh phúc lớn.

Bài này Nguyễn Lang đã dịch như sau:

Bao quanh bốn núi vạn cây rừng, Tỉnh giấc ai ngờ muôn pháp không, May thay đã có lừa ba cẳng,Vượt thẳng đường lên đỉnh tột cùng.

Nếu đem so Trần Thái Tông của chúng ta với vua Ba Tư Nặc thì chúng ta thấy Trần Thái Tông hơn hẳn một bậc, tại vì Trần Thái Tông đã để hơn 40 năm tu học và thực tập. Dù Trần Thái Tông không sống đồng thời với Bụt Thích Ca Mâu Ni, nhưng thiền quán của Trần Thái Tông rất là vững chãi. Có thể là vua Ba Tư Nặc sau khi nói chuyện với Bụt về bốn núi, về lại cung điện thì quên, nhưng Trần Thái Tông đã dùng cái công án về bốn núi này để tu từ năm này qua năm khác, và đã hiến tặng cho chúng ta một bài kệ chú giải rất hay: Bao quanh bốn núi vạn cây rừng, Tỉnh giấc ai ngờ muôn pháp không, May thay đã có lừa ba cẳng, Vượt thẳng đường lên đỉnh tột cùng.

Lừa ba cẳng này là con đường Giới, Định, Tuệ. Có con lừa nào có thể giúp mình vượt ra khỏi sinh tử nếu không phải là con lừa Giới, Định, Tuệ? Chỉ có Giới, Định, Tuệ mới giúp cho chúng ta sống một cách sâu sắc để cho chúng ta có sự chăm chú mà khám phá ra cái tự tánh không của vạn pháp. Nhờ đó chúng ta mới vượt khỏi bốn núi, và nhìn bốn núi mà mỉm cười, các ngươi không làm được gì ta đâu!

Vượt thẳng đường lên đỉnh tột cùng. Mình đứng trên cao thì tất cả những núi kia không làm gì được mình. chúng nó chỉ là những ý niệm mà thôi. Ta đã chứng được vô sinh, đã tiếp xúc được với cõi không sanh, không diệt thì sanh diệt có thể làm gì được ta? Sinh tử tương bức hề, ư ngã hà thương?

Trần Thái Tông trong khi dạy học trò đã sử dụng công án. Chúng ta có bản dịch 42 công án của ngài. Ta hãy đọc công án thứ hai cho biết:

Cử (tức là nêu công án ra):

Thế Tôn khi mới sinh ra một tay chỉ trên trời, một tay chỉ xuống đất và tuyên bố rằng: Trên trời dưới đất chỉ có một mình ta là tôn quý hơn cả. Đó là công án, tại vì trong giới Phật tử người nào cũng biết như vậy. Thái tử Tất Đạt Đa mới sinh ra là đi được liền và đi bảy bước, mỗi bước sinh ra một bông sen. Rồi chú bé mới chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất và nói: Trên trời dưới đất này ta là bậc nhất.

Niêm (tức là nắm lấy công án đó mà nhìn cho kỹ):

Một đám mây bay qua cửa động, Bao nhiêu chim chóc lạc đường về. Khi nghe tuyên bố một câu như vậy thì rất có hại, làm cho rất nhiều người hiểu lầm. Chúng ta muốn biết Trần Thái Tông nói gì về lời tuyên bố đó. Ngài mỉm cười nói rằng: Một đám mây bay qua cửa động. Bao nhiêu chim chóc lạc đường về.

Và để giúp cho người ta một cơ hội chót, Trần Thái Tông đã cho bài tụng sau đây:

Tụng:

Vì muốn giáng sinh cung Tịnh Phạn để độ sanh nên phải lộ hành tung, Bảy bước chân đi trời đất chỉ, Biết bao Phật tử tán gia phong. Tán gia phong tức là bị phá sản.

Cho nên khi nói ra một câu là nguy hiểm lắm, nó có thể làm cho người ta lạc đường vì không hiểu. Bảy bước chân đi trời đất chỉ – Biết bao Phật tử tán gia phong. Đó là một trong 42 công án mà Trần Thái Tông đưa ra.

Quý vị đều có máu của Trần Thái Tông ở trong huyết quản. Chúng ta là con cháu của Trần Thái Tông. Chúng ta biết cha ông của chúng ta ngày xưa đã tu học rất là tinh chuyên, ngay trong địa vị của một ông vua, một nhà chính trị, mà vẫn tranh thủ để có thể tu học tinh chuyên mỗi ngày. Mỗi ngày thực tập sám hối sáu lần theo phương pháp Lục thời Sám hối Khoa nghi. Luôn luôn tới với các vị cao đức để học hỏi, để tu tập. Luôn luôn tụ tập các bạn và những người trong Hoàng tộc để tu học. Sau khi nhường ngôi cho con, biết rằng mình cũng có thể ở một bên con để tiếp tục giúp con trong việc chính sự, nhưng đã để gần hết thời gian của mình cho công việc tu học và dạy dỗ.

Cho nên Trần Thái Tông là một bó đuốc rất sáng của thiền tông Việt Nam đời Trần. Ngài đúng là một vị tổ sư, dù là một vị tổ sư cư sĩ.

Chúng ta có 42 công án với đủ Cử, Niêm, và Tụng. Quý vị nên để thì giờ tham cứu qua cho biết. Chúng ta có bản tiếng Pháp trong cuốn Clés du Zen, sẽ được nhà xuất bản ở Paris ấn hành vào tháng 3 năm 1996. Clés du Zen đã xuất bản có thể là 25 năm nay rồi, và sắp được tái bản. Trong khi đó thì cuốn Zen Keys được nhà xuất bản Parallax in lại, cũng có 42 công án này của Trần Thái Tông. Thành ra quý vị có thể tham khảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Việt để biết qua những công án mà Trần Thái Tông đã dùng để giảng dạy, khai thị thiền học cho học trò của ngài.

Cách Tìm Vô Vị Chân Nhân của Làng Mai: Phương Pháp Soi Sáng

Trước đây chúng ta đã có quyết định mỗi người trong đại chúng phải tìm cách để cầu những người khác soi sáng cho mình, và số người tối thiểu mình phải cầu soi sáng cho mình là 6 người.

Trong khóa tu này chúng ta phải thực tập chuyện đó và tất cả các vị thiền sinh thường trú cũng phải làm chuyện đó. Các vị thiền sinh khách có thể làm, nhưng trong số những người soi sáng cho mình có thể là những người không có mặt ở đây.

Chúng ta biết rằng tăng thân là một viên ngọc quý, vì mỗi người trong tăng thân đều có hai con mắt của chánh niệm. Chúng ta thực tập chánh niệm, vì vậy chúng ta có thể thấy được những điều mà những người không có chánh niệm không thấy được. Để hiểu được mình, để hiểu những nhu yếu đích thực của mình, để hiểu những điểm tích cực, và những điểm còn tiêu cực của mình, mình cần phải có sự soi sáng của tăng thân, của thầy, của bạn.

Phương pháp là mỗi người phải đi cầu ít nhất là 6 người soi sáng cho mình, và mình phải cầu bằng tất cả tấm lòng của mình thì những người đó mới chịu soi sáng cho mình. Đôi khi mình hay giận hờn, hay tự ái, cho nên người ta không dám nói cho mình nghe sự thật về mình. Được người khác chỉ cho mình sự thật về mình, đó là một điều rất quý. Khi mình hoàn toàn cô lập, khi mình không sống hài hòa được với những người chung quanh, thì không ai chịu soi sáng cho mình nữa, và như vậy mình mất tăng thân. Có viên ngọc quý nhưng mình không sử dụng được.

Phương pháp này là phương pháp hay nhất. Trước hết mình chọn một người mà mình nghĩ rằng người đó hiểu được mình chút ít, có thương mình chút ít, có tin cậy mình chút ít, và mình cũng hiểu người đó chút ít, thương người đó chút ít, tin cậy người đó chút ít. Mình ngồi xuống với người đó và nói: Nhờ anh soi sáng cho tôi, tôi thật lòng nhờ anh soi sáng cho tôi, và xin anh đề cử thêm năm người khác. Mình nhờ người đó đề cử thì rất là hay, tại vì nếu mình tự chọn thì đôi khi mình muốn chọn những người không nói thật, những người chỉ biết nói ngọt thôi, không bao giờ có khả năng nói sự thật cho mình biết.

Người được mình yêu cầu, sau một hai ngày thì đưa cho mình một danh sách 5 người và nói rằng: Theo tôi thì anh nên cầu thêm năm người này nữa. Năm người này có thể nói cho anh nghe sự thật về anh. Mình có thể viết một cái thơ ngắn, nói rằng: Thưa sư anh (hay sư chị, sư em), em rất cần được soi sáng, và em tin tưởng rằng với cái thấy của sư anh thì sư anh có thể có khả năng nhận diện được những điểm tích cực và những điểm tiêu cực của em. Và em sẽ rất sung sướng nếu được sư anh soi sáng cho. Em sẵn sàng chấp nhận những lời khuyên bảo, những sự soi sáng của sư anh.

Mình viết thư đó và gởi cho cá nhân 5 hay 6 người hoặc nhiều hơn, tùy theo mình. Mình nói rằng ngày mà mình tiếp nhận được tờ giấy soi sáng của họ thì mình sẽ lạy xuống ba lạy trước khi mở ra để đọc một mình.

Khi người sư anh, sư chị, hay sư em đưa cho mình một lá thơ để giúp cho mình soi sáng, lá thơ đó có thể là nữa trang, 10 hàng, hoặc có người không viết mà ngồi xuống nói cho mình nghe. Nghe xong hay tiếp nhận xong lá thơ đó, mình phải lạy xuống ba lạy dù người kia là sư em của mình. Có như vậy thì kỳ sau mình mới hy vọng những người khác soi sáng cho mình.

Đây là những truyền thống lâu đời được thực tập trong ngày Tự Tứ, tức là ngày chấm dứt khóa tu. Có nghĩa việc soi sáng này là chúng ta chỉ tiếp tục truyền thống chứ không phải là điều chúng ta sáng tạo ra.

Người cầu xin, phải cầu xin với tất cả trái tim của mình. Lắng nghe với tất cả trái tim của mình. Còn người soi sáng thì phải dùng cả trí tuệ, cả trái tim, cả lòng thương yêu của mình để giúp cho người kia.

Cố nhiên trong sự soi sáng đó mình không có sự bực bội, chê trách, hận thù, kỳ thị. Đây là một dịp để mình chứng tỏ rằng mình có cái thấy, có sự thương yêu, ưu ái đối với người kia, chứ không phải là mình chỉ sẵn sàng để chỉ trích, để kể những điều tiêu cực của người kia mà thôi. Thường thường trong sự soi sáng như vậy mình cũng cho người kia biết những điểm tích cực của họ. Mình phải biết nhìn những gì quý báu, rồi sau đó mình mới nói tới những yếu kém, những khuyết điểm của người đó.

Nếu sống trong tăng thân mà chúng ta không hưởng được cái đó của tăng thân thì rất uổng. Tại vì tăng thân là một trong ba viên ngọc quý Bụt, Pháp, và Tăng. Chúng ta nên biết rằng sống trong tăng thân có khi hơn cả trăm người, cho nên cái thấy của tăng thân luôn luôn là sáng, là sâu, là rộng hơn cái thấy của một cá nhân. Chúng ta đã từng dự những buổi pháp đàm, và chúng ta đã biết. Nếu nói chuyện với từng người, chúng ta thấy cái thấy của từng người đôi khi có sâu sắc, nhưng không thể nào sâu sắc và bao quát được như cái thấy của nhiều người trong tăng thân hợp lại. Chúng ta chỉ có cái đó làm vốn mà liếng thôi. Cái đó là tuệ giác. Cái thấy của chúng ta còn hẹp hòi, còn bị ngăn cách. Cái thấy của tăng thân là một cái thấy mà chúng ta phải nương tựa vào.

Ở Việt Nam người ta thường nói ba người cùng đi với mình, trong đó thế nào cũng có một người có thể dạy mình được. Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư. Huống hồ là chúng ta có tăng thân, và nhất là mọi người trong tăng thân đều có con mắt hết. Chỉ khi nào chúng ta thấy được chúng ta, hiểu được chúng ta thì chúng ta mới có thể chuyển hóa được.

Mỗi người trong tăng thân phải thực tập điều này, phải đi tìm một người bạn, một người anh, người chị, tốt hơn hết là người sống ở trong xóm của mình, tại vì người đó gần gũi mình 24 giờ đồng hồ mỗi ngày. Nếu nhờ người xóm khác, thì người xóm khác đâu có thấy được rõ như người cùng xóm với mình. Kiếm và xin người đó soi sáng cho mình, đồng thời xin người đó đề cử cho mình năm người khác. Cố nhiên trong khi đề cử đó, mình có thể thương lượng với người đó, nhưng mình phải biết rằng người đó có cái thấy khác.

Đôi khi mình có một vài thành kiến, một vài cố chấp, mình không thích người này soi sáng cho mình, không thích người kia soi sáng cho mình, nhưng người bạn của mình thì có thể thấy khác. Do đó khi người đó đề nghị năm người kia thì mình nên theo. Hoặc nếu không được hài lòng lắm thì mình thương thuyết với người đó để đổi một, hai người. Nói tóm lại đây là chuyện có thể thương thuyết được.

Cố nhiên trong đại chúng sẽ có người bị yêu cầu soi sáng cho những người cùng xóm. Vì vậy cho nên các thiền sinh khách nên chọn những những thiền sinh khách khác, và có thể viết thơ cho những người thân của mình hiện không có mặt tại Làng, để nhờ họ soi sáng giùm mình.

Trong lá thơ viết cho người mình cầu soi sáng, mình phải viết rất rõ là mình sẵn sàng, mình thao thức, mình ao ước được nghe soi sáng, và mình sẽ biết ơn những lời nói thật về mình của họ. Có thể là người kia chỉ nói được 70% thôi, người kia chưa thấy được 100%, nhưng 70% là quý cho mình lắm rồi, nó giúp mình thấy được “mặt kia” của mình mà mình không hề thấy. Nhờ vậy mà mình có cơ hội tìm được “chân nhân” của mình.

THIỀN SƯ THƯỜNG CHIẾU

Chúng ta đã học về thiền sư Trần Thái Tông. Hôm nay chúng ta học về thiền sư Thường Chiếu, một thiền sư khác có ảnh hưởng lớn trên thiền phái Trúc Lâm.

Thiền sư Thường Chiếu tịch năm 1203. (Bản in của Hà Nội là 1023, là in sai).

Ở Việt Nam chúng ta có một thiền viện tên là Thường Chiếu, lấy tên của vị thiền sư này, do thầy Thanh Từ chủ trì. Thường Chiếu là một thiền sư lớn, đại diện cho các khuynh hướng, các truyền thống thiền của đời Trần.

Tăng Hội                                         Đạt Ma Đề Bà

Thảo Đường                                   Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi

Vô Ngôn Thông                               Lâm Tế

Thường Chiếu

1.  Hiện Quang       Thông Thiền        Thần Nghi

2.  Đạo Viên             Tức Lự               Ẩn Không

Thái Tông          3.  Đại Đăng           Ứng Thuận         Thiên Phong

Thánh Tông       4.  Tiêu Diêu           Nhất Tông          Giới Minh

Tuệ Trung          5.  Huệ Tuệ

Tông Cảnh        6.  Trúc Lâm

7. Pháp Loa            Bảo Phác

8. Huyền Quang

9. An Tâm

10. Tĩnh Lự Phù Vân

11. Vô Trước

12. Quốc Nhất

13. Viên Minh

14. Đạo Huệ

15. Viên Ngộ

16. Tổng Trì

17. Khuê Thám

18. Sơn Đằng

19. Hương Sơn

20. Trí Dung

21. Tuệ Quang

22. Chân Trú

23. Vô Phiền

Biểu đồ 2 – 23 Vị Tổ Sư đầu của Thiền Phái Yên Tử

Năm 1203 là cuối đời Trần. Thiền sư Thường Chiếu đã đào tạo nên thiền sư Hiện Quang là người đầu tiên lên núi Yên tử để mở một đạo tràng. Rồi học trò của Hiện Quang là Đạo Viên, và Trần Thái Tông là học trò của Đạo Viên. Học trò xuất gia mà đắc pháp của Đạo Viên là Đại Đăng (Xem biểu đồ 2).

Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông. Nhưng trước khi có thiền phái Vô Ngôn Thông thì nước ta đã có các thiền phái khác như Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi. Trước Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi thì chúng ta cũng đã có thiền phái của thầy Pháp Thiên tức Đạt Ma Đề Bà. Trước Pháp Thiên thì có thiền phái Tăng Hội.

Sau thiền phái Vô Ngôn Thông thì có thiền phái Thảo Đường. Một bên là miền Đông Ấn Độ, một bên là miền Tây Trung Quốc. Thành ra tất cả những thiền phái này có cội rể từ Ấn Độ.

Thầy Tăng Hội sinh ở Việt Nam, và Phật giáo Việt Nam hồi đó được truyền sang từ Ấn Độ trực tiếp. Rồi thầy Pháp Thiên cũng từ Ấn Độ sang. Thầy Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi cũng từ Ấn Độ sang, cho nên ba thiền phái này có gốc Ấn Độ. Trong khi đó thiền phái Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thì có nguồn gốc ở Trung Quốc. Vì vậy, tuy mang danh là con cháu của thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền sư Thường Chiếu thừa hưởng tất cả những truyền thống có mặt trước đó tại Đại Việt.

Cũng như chúng ta là thống thuộc thiền phái Lâm Tế, nhưng kỳ thực chúng ta cũng là con cháu của Tăng Hội, của Pháp Thiên, của Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi, của Vô Ngôn Thông, và của Thảo Đường.

Gốc Tích Của Thiền Sư Thường Chiếu

Thiền sư Thường Chiếu ngày xưa đã từng làm quan ở trong triều vua Lý Cao Tông. Thầy của thiền sư là thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả. Tịnh Quả tức là chùa của phái Vô Ngôn Thông. Nhưng sau khi bổn sư tịch rồi thì thầy Thường Chiếu dời sang chùa Lục Tổ. Chùa Lục Tổ là một chùa thuộc về tông phái Tỳ -Ni Đa-Lưu-Chi. Nghĩa là trong khi tu tập với thầy bổn sư thì thầy ở chùa của bản phái, và sau khi bổn sư tịch rồi thì thầy trở nên một vị đạo sư rất nổi tiếng và thầy đã về trú trì chùa Lục Tổ, tức là chùa của phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi. Điều đó chứng tỏ rằng vào thời đó các vị cao tăng thuộc phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi không đủ đông để duy trì tất cả tổ đường của cả ba phái. Tại vì chùa Tổ Đường là một chùa rất xưa, rất lớn của phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi.

Cố nhiên vào thời đó còn có nhiều vị cao tăng của phái Tỳ-Ni Đa – Lưu-Chi, ví dụ như Đạo Lâm hay Chánh Thiền, Định Hương hay Chi Sơ, nhưng vì phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi có nhiều chùa Tổ Đình, cho nên không có đủ người để chăm sóc. Vì vậy mà sự kiện thiền sư Thường Chiếu từ phái Vô Ngôn Thông đi sang trú trì một chùa của phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi là một điều đáng cho chúng ta chú ý. Chính vì sự kiện thầy Thường Chiếu trú trì một chùa của phái Tỳ-Ni Đa-Lưu-Chi nên thầy đã thâu góp được rất nhiều tài liệu về thiền phái này.

Thiền sư Thường Chiếu là một người rất có ý thức về lịch sử truyền bá của thiền tông ở Việt Nam. Vì vậy mà thầy đã để tâm sưu tập những tài liệu đã có từ trước cho đến bấy giờ, và thầy đã trao những tài liệu đó lại cho một vị đệ tử tên là Thần Nghi.

Đi Tìm Nguồn Gốc Của Thiền Uyển Tập Anh

Chúng ta phải biết rằng tài liệu căn bản nhất của lịch sử Phật giáo Việt Nam là tập Thiền Uyển Tập Anh. Thiền Uyển tức là vườn thiền. Tập là gom góp lại. Anh có nghĩa là những cái đẹp nhất. Sưu tập lại tất cả những bông hoa đẹp nhất trong vườn thiền.

Theo sách Thiền Uyển Tập Anh thì có một vị thiền sư trước đó tên là Thông Biện (mất năm 1134) của phái Vô Ngôn Thông, đã truyền tài liệu đó lại, và thầy Thường Chiếu đã tiếp nhận tài liệu đó.

Thiền Uyển Tập Anh là một tài liệu rất đặc biệt về lịch sử Phật Giáo Việt Nam, viết bằng chữ Hán, và đã có bản dịch bằng tiếng Việt. Quý vị nên tìm đọc tập sách này.

Trong khi nghiên cứu để biết ai là tác giả sách Thiền Uyển Tập Anh, ta thấy tài liệu đầu tiên là do thiền sư Thông Biện gom góp và truyền lại cho con cháu. Sách đến tay thiền sư Thường Chiếu, và thiền sư Thường Chiếu truyền cho thiền sư Thần Nghi (1216), thiền sư Thần Nghi truyền cho đệ tử là Ẩn Không.

Trong những năm dạy ở Eùcole Pratique des Hautes Etudes de Paris, tôi đã nghiên cứu về gốc gác của sách này và đã tìm ra rằng tác giả của Thiền Uyển Tập Anh là bốn thiền sư Thông Biện, Thường Chiếu, Thần Nghi, và Ẩn Không. Vì vậy ta có thể nói sách Thiền Uyển Tập Anh đã được biên tập từ thế kỷ thứ 12 cho đến thế kỷ thứ 13.

Theo Thiền Uyển Tập Anh thì thầy Ẩn Không đã từng ở trên núi Na, tức là núi mà hồi 10 tuổi tôi đã có dịp được leo lên chơi. Khi học về thơ chúng ta biết rằng thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một thi sĩ đại diện cho thơ cũ, nhưng cũng đánh dấu cho sự xuất hiện của thơ mới. Ở đây cũng vậy, thiền sư Thường Chiếu đại diện cho Phật giáo nhiều tông phái đời Lý, và cũng là khởi đầu cho Phật giáo thống nhất của đời Trần. Phật giáo Việt Nam có khuynh hướng đi từ thống nhất, và đây là một nét rất đặc thù từ ngàn xưa cho đến bây giờ.

Thiền phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử mà chúng ta sẽ nói đến sau này, là một nỗ lực thống nhất tất cả những tông phái có mặt ở Đại Việt hồi đó để đi tới một nền Phật giáo thống nhất.

Tinh Thần Thống Nhất Của Phật Giáo Việt Nam

Trong thời cận đại ở Việt Nam có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và ở miền Bắc cũng có Hội Phật Giáo Thống Nhất. Thành ra chữ thống nhất là một sự biểu hiện ý hướng của người Việt không muốn chia chẻ ra nhiều tông phái, mà nên hợp nhất trong một tổ chức. Đây là một chuyện có thật trong lịch sử.

Trong mấy mươi năm đi dạy Phật giáo ở Tây phương, trong lòng tôi cũng có khuynh hướng đó, và phương pháp giảng dạy cũng được hướng dẫn bởi tinh thần đó. Vì vậy mỗi khi có một khóa tu mở ra ở Âu Châu hay ở Bắc Mỹ Châu thì Phật tử từ các tông phái khác nhau đều tới tu học, và người nào cũng thấy hạnh phúc, là vì cái giáo lý Phật giáo mình cống hiến cho người ta là Phật giáo không có tông phái. Cho nên người nào cũng thấy thoải mái khi sống ở trong đó cả. Tuy không phân tích ra nhưng mình thấy một cách rất rõ ràng ở Việt Nam có một khuynh hướng từ trước đến giờ muốn hợp nhất tất cả các tông phái, tất cả những học phái Phật giáo lại với nhau. Vì vậy danh từ thống nhất đã được sử dụng từ Bắc cho tới Nam.

Chúng ta có một vị quốc sư xuất hiện vào triều vua Lê Thánh Tông, mang danh là Nhất Tông Quốc Sư. Thiền sư Thường Chiếu có một đệ tử tên là Thông Thiền, và Thông Thiền truyền pháp cho một vị đệ tử tên là Tức Lự. Tức Lự truyền cho Ứng Thuận, và Ứng Thuận là thầy của một quốc sư là Nhất Tông Quốc Sư. Nhất Tông tức là một tông phái duy nhất. Cái ý hướng đó đã có rất rõ ở trong trái tim của người Phật tử Việt Nam.

Tại Việt Nam có một giáo hội gọi là Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thống nhất ở đây cũng có nghĩa là sự tổng hợp của hai hệ phái Bắc Tông (Theravada Buddhism) và Nam tông (Mahayana Buddhism). Hai truyền thống Bắc tông và Nam tông hợp nhất trong một tổ chức giáo hội, đó là chuyện đã xảy ra ở Việt Nam mà không nước nào trên thế giới có chuyện này! Trong giáo hội đó, khi nào vị Tăng Thống là Bắc tông thì Phó Tăng Thống là Nam tông. Khi nào Tăng Thống là Nam tông, thì Phó Tăng Thống là Bắc tông. Đó là ý của người Việt để cho hai tông phái Nam, Bắc được sống chung với nhau và thừa hưởng những châu báu của nhau.

Chúng ta học lịch sử của các vị tổ sư, học giáo lý và phương pháp hành trì ngày xưa của các vị tổ sư để thấy con đường của chúng ta ngày hôm nay và ngày mai. Chúng ta được soi sáng bởi những cái đó.

Tại chùa Lục Tổ, thiền sư Thường Chiếu mở Phật học viện, và các thầy từ các chùa khác tới để học rất đông. Đạo tràng rất là hưng thịnh. Ngày nay thầy Thanh Từ lập thiền viện Thường Chiếu ở Việt Nam, cũng là để nhớ lại giai đoạn rực rỡ huy hoàng đó, và để tiếp tục công trình của các vị tổ sư.

Các Pháp Môn Của Thiền Sư Thường Chiếu

Điều trước tiên chúng ta phải nói về thiền sư Thường Chiếu là Tâm học, ngày nay gọi là Tâm lý học. Nhưng gọi là Tâm học thì đúng hơn.

Thầy Thường Chiếu có tuyên bố một câu: Người tu đạo nếu biết rõ về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì chỉ phí công vô ích. Nó có nghĩa là chúng ta phải có một căn bản về tâm học trước khi chúng ta thực tập. Nếu không biết gì về phương cách vận hành của tâm, thì chúng ta có thực tập cách mấy đi nữa cũng không thành công.

Trong kinh Niệm Xứ, Bụt có dạy chúng ta quán chiếu tâm. Quán chiếu tâm ở đây có nghĩa là nhận diện được tất cả những hiện tượng tâm lý đang phát hiện trong ta.

Tâm của chúng ta giống như một dòng sông, và mỗi hiện tượng tâm lý giống như là một đợt sóng hay là một giọt nước. Mỗi khi có một hiện tượng tâm lý xuất hiện thì chúng ta phải nhận diện hiện tượng tâm lý đó. Phương pháp của chúng ta là nhận diện đơn thuần.

Các vị từ Việt Nam mới sang Làng Mai nên để ý đến bốn chữ này. Nhận diện đơn thuần tức là chỉ nhận diện nó thôi chứ không phê phán, không đàn áp, không chê trách. Trong kinh Niệm Xứ Bụtcó dạy rằng khi ta có tâm tham thì ta biết ta có tâm tham. Thở vào tôi biết tâm tham đang phát hiện trong tôi, thở ra tôi biết tâm tham đang phát hiện trong tôi. Chỉ chừng đó thôi. Khi ta có tâm giận thì ta biết ta có tâm giận. Thở vào tôi biết tôi đang giận, thở ra tôi biết cái giận đang có trong tôi. Chỉ như vậy thôi và tuyệt đối không dùng sức mạnh của mình để đàn áp, để chê trách, để đè nén cơn giận. Đó gọi là thực tập nhận diện đơn thuần.

Điều này rất rõ ở trong kinh Niệm Xứ và nhiều kinh khác dạy về quán niệm. Khi thở vào, mình biết rằng đây là hơi thở vào, khi thở ra mình biết đây là hơi thở ra. Khi hơi thở vào sâu, mình biết là hơi thở vào sâu, khi hơi thở vào cạn mình biết đây là hơi thở vào cạn. Mình chỉ nhận diện nó là vào, là ra, là sâu, là cạn thôi chứ mình không nói rằng hơi này không được sâu, hơi kia cạn quá! Không có ý hướng phê phán và đàn áp. Điều này rất là quan trọng. Chỉ cần nhận diện đơn thuần tất cả những hiện tượng tâm lý ở trong ta là cũng đủ để chúng ta đi tới sự chuyển hóa rồi.

Khi nhận diện một tâm hành (Tâm hành là một danh từ để chỉ những hiện tượng tâm lý), ví như tâm hành buồn, tâm hành giận, tâm hành ganh tị, hay tâm hành sợ hãi, thì chúng ta nên nhận diện theo phương pháp do Bụt dạy tức là nhận diện đơn thuần thôi. Mình biết sự có mặt của tâm hành đó, và mình dùng năng lượng của chánh niệm để soi chiếu vào trong tâm hành đó.

Ban đầu mình nhận diện nó thôi, nhưng càng nhận diện mình càng thấy rõ mặt mũi nó. Mặt mũi nó là gì? Mặt mũi nó tức là gốc rễ của nó. Mình biết rằng nó từ đâu tới. Có khi nó tới từ rất xa, tới từ tổ tiên ông bà của mình. Tới từ nền tảng giáo dục của mình từ hồi còn ấu thơ. Nhưng luôn luôn chúng ta phải bắt đầu bằng sự nhận diện đơn thuần. Ví dụ gặp sư chú Pháp Ứng thì mình biết rằng đây là sư chú Pháp Ứng. Cái đó quan trọng lắm. Nếu không biết đây là sư chú Pháp Ứng thì không thể nào làm ăn gì được với sư chú Pháp Ứng cả.

Khi nhận diện được sư chú Pháp Ứng rồi và duy trì chánh niệm, thì càng lúc mình càng thấy sâu vào trong tự thân của sư chú Pháp Ứng. Đối với bất cứ một hiện tượng nào, nếu chúng ta nhận diện nó rồi và chúng ta tiếp tục duy trì sự nhận diện đó thì chúng ta đi sâu vào sự hiểu biết bản chất của hiện tượng đó, dù hiện tượng đó là hiện tượng tâm hay là hiện tượng thân.

Ví dụ như mình có một tâm niệm buồn. Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn! Chỉ thấy buồn buồn vậy thôi. Phải nhận diện nó thì mới biết. Ban đầu thì không biết tại sao mình buồn, nhưng cứ giữ chánh niệm và nhìn cái buồn đó một hồi thì thấy được bản chất của cái buồn đó và gốc rễ của nó. Sở dĩ thi sĩ không biết tại sao ông ta buồn, là tại vì ông ta không thực tập phương pháp nhận diện đó trong một thời gian đủ lâu. Cái sợ của mình cũng vậy. Cái giận, cái ganh, cái bất an của mình, đều cũng vậy.

Trước hết mình phải nhận diện nó. Đừng xua đuổi nó, xua đuổi thì nó sẽ không đi mà mình cũng sẽ không thành công. Đừng lên án nó, mình phải sống hòa bình với nó. Tại sao? Tại vì nó chính là mình! Chủ ý của Bụt là không mở ra một cuộc chiến tranh giữa mình với tâm hành đó, dù là tâm hành đó là một tâm hành tiêu cực hay một tâm hành tích cực. Khi vui thì biết là mình đang vui. Khi hạnh phúc mình biết mình đang hạnh phúc, khi buồn mình biết mình đang buồn, khi khổ mình biết là mình đang khổ. Cái biết đơn thuần, sự nhận diện đơn thuần là rất quan trọng. Chúng ta thực tập trên một cơ bản gọi là bất nhị, cho nên chúng ta biết rằng cái vui cũng là ta, mà cái buồn cũng là ta. Chánh niệm về vui cũng là ta, chánh niệm về buồn cũng là ta. Nếu chúng ta khởi lên tâm niệm đàn áp, chê bai, đè nén tức là chúng ta tạo ra một thế căng thẳng, một thế lưỡng nguyên trong chính con người của chúng ta. Nói rõ hơn, một phần của chúng ta đàn áp phần kia của chúng ta. Như vậy là ta tạo chiến tranh ngay trong con người của ta.

Đây là một điểm nhiều người vấp phải. Không phải chỉ người ngoài đời mà còn trong giới xuất gia. Những người gọi là tu rục, hạ thủ công phu nhưng mắc phải rất nhiều. Cho nên càng tu họ càng có mặc cảm, họ càng giận ghét họ. Trong khi đó thì phương pháp của Bụt nói rằng chúng ta phải hòa giải với bản thân của chúng ta. Nếu có một bệnh ở trong cơ thể, chúng ta phải hòa giải với bệnh đó thì chúng ta mới chuyển hóa, mới trị liệu cho nó được. Còn nếu chúng ta giận, muốn lấy dao cắt cái đó vất ra ngoài, thì chúng ta sẽ tạo ra một thế xung đột rất lớn.

Đứng về phương diện tâm cũng vậy, khi chúng ta có những tâm hành làm cho chúng ta khổ, chúng ta đau, nếu chúng ta muốn lấy con dao giải phẩu để cắt nó liệng ra ngoài, thì chúng ta đau khổ thêm. Vì vậy cho nên Bụt dạy niềm vui kia cũng là ta, niềm khổ kia cũng là ta; sự hoan hỷ kia là ta, mà sự giận hờn kia cũng là ta. Vì vậy cho nên khi chánh niệm phát khởi, ta ôm lấy niềm đau đó như là ôm một người con, người cháu, người em mà không có khuynh hướng đánh lộn.

Điều này rất là quan trọng. Nếu quý vị từ Việt Nam sang mà học được phương pháp nhận diện đơn thuần này thì đó cũng đã đáng công chuyến đi của quý vị rồi. Đây là một phương pháp thực tập rất mầu nhiệm của Bụt.

Chánh niệm là một nguồn năng lượng từ trong tâm mình phát ra. Mỗi khi chúng ta thực tập hơi thở ý thức, mỗi khi chúng ta thực tập bước chân có ý thức, thì chúng ta làm cho nguồn năng lượng chánh niệm đó sống dậy, rồi chúng ta dùng năng lượng của chánh niệm đó để ôm lấy, để ấp ủ, để quán chiếu cái gì đang thực sự xảy ra. Cái đó có thể là một tâm hành như cái giận, cái buồn, cái bất an của chúng ta. Chúng ta đối xử với tâm hành đó một cách rất từ ái, tại chúng ta biết rằng nó là ta. Tôi là cái giận, cái buồn, cái khổ của tôi. Vì vậy cho nên không có sự xung đột giữa mình với niềm đau, nỗi khổ của mình. Mình đã có niềm đau nỗi khổ mà mình còn xung đột với nó nữa thì mình biến thành một bãi chiến trường! Mình tạo thêm một cuộc chiến tranh thứ hai. Cho nên ôm ấp niềm đau nỗi khổ mình bằng chánh niệm cũng giống như bà mẹ thương yêu ôm lấy đứa con đang đau khổ của mình. Chỉ có phương pháp đó mới làm dịu được nỗi khổ. Nếu chúng ta tiếp tục thì năng lượng chánh niệm sẽ soi chiếu vào nỗi khổ đó và sẽ chỉ cho chúng ta thấy cái bản chất, cái nguyên do của nó. Nếu tiếp tục nữa, thì sẽ có sự chuyển hóa của niềm đau, nỗi khổ của chúng ta.

Đó là điều mà thiền sư Thường Chiếu muốn nói tới: Phải biết về đường lối vận hành của tâm mình thì mới tu thành công được. Nếu không thì phí rất nhiều sức, nó làm cho mình hết sức mà mình vẫn không thành công trong sự tu học của mình.

Trong tăng thân của chúng ta có những sư em rất trẻ nhưng đã chứng tỏ có khả năng nhận diện tâm hành của mình. Ví dụ như sư em Pháp Cảnh, khi viết thư cho tôi thì chứng tỏ đã có khả năng nhận diện tâm hành của mình. Sư em Tuệ Nghiêm cũng là một trong những người có khả năng nhận diện tâm hành tốt cũng như tâm hành không tốt của mình, và không đánh lộn với nó, không chê trách nó. Đó là một việc rất hay. Cho tới sư em tương lai Thùy Linh, trong lá thơ viết cho tôi cũng đã chứng tỏ bắt đầu có khả năng nhận diện tâm hành của mình. Rất đáng mừng.

Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta phải học phương pháp nhận diện những tâm hành của chúng ta. Mỗi khi có một tâm hành phát khởi thì chúng ta phải nhận diện nó, và nếu có thể được, chúng ta duy trì chánh niệm để mà ôm ấp nó, để mà quán chiếu nó thì tự nhiên chúng ta sẽ đi tới sự chuyển hóa.

Ví dụ khi đến lượt mình đứng ra cầm một cây hương để xướng bài cúng hương, thì có thể có một tâm hành nó phát khởi trong mình. Theo nguyên tắc thì khi cầm cây hương để xướng bài Xin cho khói trầm hương kết thành mây năm sắc là mình phải quán chiếu cái khói hương của mình dâng lên và phải quán chiếu Bụt và tất cả các vị Bồ tát trước mặt mình. Đó là đối tượng của quán chiếu. Tại vì mình đang dâng hương lên Bụt, lên các vị tổ sư, và tổ tiên của mình.

Giả dụ có một tâm hành xảy ra: “Không biết mình xướng như vậy mà các sư anh sư chị có cười mình không!”. Rồi mình để ý đến chuyện đó nhiều hơn là chuyện dâng hương cho Bụt và các vị Bồ tát. Điều đó rất có thể xảy ra. Mình quan tâm về chuyện sư anh nghĩ gì về giọng của mình, sư chị nghĩ gì về giọng của mình. Trong khi khởi ra tâm hành như vậy thì mình mỉm cười, mình biết rằng mình đang dâng hương mà kỳ thật mình đang không dâng hương. Mình đang lo lắng về những phê bình của sư anh, sư chị. Đó gọi là nhận diện tâm hành. Mình mỉm cười thôi, mình mỉm cười mình. Nụ cười đó có thể là một nụ cười từ bi. Trời đất ơi! Mình đang dâng hương cho Bụt mà mình không nghĩ tới chuyện dâng hương mà lại nghĩ tới chuyện người ta chê hay khen giọng dâng hương của mình! Đó là nhận diện tâm hành. Khi nhận diện được tâm hành thì mình lập tức trở về được với sự dâng hương. Rất là mầu nhiệm.

Mình là đối tượng của nụ cười của mình. Mình cười mình với tất cả từ bi của mình. Bụt cũng nhận thấy mình, ngài đâu có làm gì khác hơn? Ngài cũng chỉ mỉm cười với mình thôi. Sao đệ tử của mình hay quá, đang dâng hương mà nghĩ toàn chuyện gì đâu!

Có nhiều thầy, nhiều sư cô đã từng được học Duy Thức HoÏc, nhưng nhận thấy rằng môn Duy Thức không đóng góp gì nhiều cho sự tu tập của mình. Đó là vì đã không được học Duy Thức, đã không được học về tâm theo đường hướng này.

Đường Vào Tâm Học: Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu

Tại Làng Mai chúng ta có Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu. Năm mươi bài tụng này có ý hướng rất rõ rệt để giúp chúng ta thấy được sự vận hành của tâm chúng ta, nhờ đó mà chúng ta sẽ tu tập căn cứ trên cái thấy đó.

Trong Năm Mươi Bài tụng Duy Biểu chúng ta học rằng tất cả các tâm hành đều có hạt giống trong tàng thức. Tâm hành tốt cũng như tâm hành không tốt. Mỗi khi một hạt giống phát hiện trên ý thức, chúng ta phải làm thế nào để dùng chánh niệm mà nhận diện nó. Chánh niệm tức là sự có mặt của Bụt, mà khi có mặt của Bụt ở trong phòng khách của chúng ta thì chúng ta có an ninh.

Chúng ta học rằng những tâm hành nào phát hiện nhiều thì có thể lớn lên mau ở dưới căn bản của nó. Phần dưới của tâm là tàng, là nơi giữ gìn, cất chứa tất cả những hạt giống tốt cũng như xấu của ta. Phần trên của tâm gọi là ý, nơi các hạt giống đó hiển bày, phát hiện ra. Chúng ta cũng biết rằng hạt giống phát hiện và được chúng ta duy trì ở trên vùng ý thức càng lâu thì ở dưới hạ tầng cơ sở, nó càng lớn mạnh.

Cho nên khi một hạt giống xấu phát hiện, đó là một tin không tốt, tại vì nếu hạt giống xấu phát hiện nhiều lần trong một ngày thì gốc của nó ở tàng thức sẽ lớn lên, và nó sẽ làm hại ta nhiều hơn. Ví dụ chúng ta bị chọc giận 20 lần trong một ngày, thì 20 lần hạt giống của sự giận hờn lớn lên. Đôi khi chúng ta giận nhiều hơn năm phút, giận 10, 15 phút hay cả ngày, thì ở dưới hạ tầng nó lớn lên suốt ngày!

Vì vậy khi hạt giống của cơn giận biểu hiện thì chúng ta phải biết mời hạt giống của chánh niệm lên để ôm lấy nó, chăm sóc cho nó. Tôi đang thở vào và biết tôi đang giận, tôi mỉm cười với cái giận của tôi. Đó là năng lượng của chánh niệm. Năng lượng của chánh niệm ôm lấy cái giận giống như một bà mẹ ôm lấy đứa con, hay một người chị ôm lấy đứa em. Đó là phương pháp nhận diện đơn thuần để chăm sóc, không phải là phương pháp đánh dẹp.

Nếu biết làm như vậy thì khi cái giận phát khởi nó sẽ được chăm sóc liền lập tức và nó có thể chuyển hóa, nó trở về với trạng thái hạt giống của nó. Nếu không làm như vậy, thì nó tiếp tục lớn lên ở dưới căn bản của nó.

Thành ra phương pháp mà chúng ta học là phương pháp nhận diện đơn thuần, rồi chăm sóc để chuyển hóa. Chúng ta biết rằng khi năng lượng chánh niệm có mặt ở trên phòng khách thì chúng ta có an ninh. Phòng khách của chúng ta có Bụt ngồi trong đóù thì ta có an ninh.

Khi có một hạt giống tốt phát hiện, chúng ta cũng phải biết rằng một hạt giống tốt đang phát hiện ở trong ta. Vẫn là nhận diện đơn thuần, và biết hạt giống này làm cho khu vườn của ta trong sáng, dễ chịu. Vì vậy mà chúng ta muốn nó ở trên đó lâu hơn để cho dưới căn bản của nó lớn thêm lên. Cho nên chúng ta phát khởi chánh niệm, ôm lấy nó. Trong thời gian chánh niệm có mặt trên này và ôm lấy cái bông hoa kia thì khu vườn ý thức nó sẽ rất đẹp.

Thực tập thiền hành là để làm điều đó. Chúng ta thiền tọa, chúng ta niệm Bụt cũng là để làm điều đó. Niệm Bụt tức là giữ Bụt ở lại trong tâm. Có nhiều người giữ không được. Muốn mà giữ không được, chỉ giữ được cái âm thanh, mà không giữ được bản chất của Bụt trong ý thức của mình.

Có chánh niệm trong khi ăn cơm, trong khi uống trà, trong khi rửa bát, trong khi chùi nồi, quét lá, thiền tọa, thiền hành, thì chúng ta có một phương pháp để mời những tâm hành tốt lên, duy trì chúng ở lại với chúng ta trên vùng ý thức. Đó là một phương pháp tu rất dễ, rất vui, tại vì càng duy trì hạt giống tốt ở trên ý thức, thì cái gốc rễ của nó càng lớn ở dưới tàng thức. Khi những hạt giống tốt lớn mạnh thì tự nhiên chúng ảnh hưởng tới những hạt giống xấu, những hạt giống xấu sẽ yếu đi, nhất là khi các hạt giống xấu đó không có cơ hội để phát khởi lên trên bề mặt của ý thức.

Năm mươi Bài tụng Duy Biểu cung cấp cho chúng ta cái thấy đó về tâm của chúng ta. Vì vậy cho nên tất cả chúng ta đều phải học Năm mươi Bài tụng Duy Biểu cho đàng hoàng để làm cơ bản cho sự tu học của chúng ta. Sau này có ra giúp đời thì chúng ta cũng phải sử dụng cái hiểu, cái biết của chúng ta về tâm để có thể giúp được những người khác.

Trong xã hội chúng ta có rất nhiều nhà tâm lý trị liệu. Những người này có phận sự giúp cho bệnh nhân của họ bớt sầu khổ và thêm niềm vui. Muốn làm được điều đó họ phải có một căn bản tâm học rất vững, và họ cũng phải biết nhận diện cái tâm của họ. Họ phải biết chuyển hóa tâm của họ. Nói rõ ra là họ phải tu, nếu không thì họ không hành nghề được. Vì vậy cho nên những khóa tu của chúng ta mở cho những nhà Tâm Lý Trị Liệu ở Tây phương, khóa nào cũng đông, ở Âu Châu cũng như ở Mỹ châu, tại vì nhà tâm lý trị liệu nào cũng thấy rằng nếu mình không tu học thì mình không thể nào giúp người được.

Thiền sư Thường Chiếu có một cái biết rất rộng về tâm học. Có một lần một vị đệ tử đến hỏi thầy: Bạch thầy, khi cái tâm và cái vật tiếp xúc với nhau, thì sự việc đó xảy ra như thế nào? Câu chữHán là Vật ngã phan duyên thời như hà? Vật tức là cái đối tượng của nhận thức; ngã là cái chủ thể của nhận thức, tức là cái tâm; phan duyên là hai cái đó tiếp xúc với nhau; như hà nghĩa là như thế nào. Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức tiếp xúc với nhau thì sự việc nó xảy ra như thế nào?

Thầy Thường Chiếu đáp bằng một bài kệ rằng:

Vật ngã lưỡng vong! (là cả hai cái đều đánh mất tự thân) Tâm tính vô thường, Dị sinh dị diệt, Sát na bất đình, Thùy thị phan duyên? Sinh vi vật sinh, diệt vi vật diệt, Bỉ pháp sở đắc, thường vô sinh diệt.

Đó là lời dạy của ngài Thường Chiếu về nguyên tắc tu tập. Nó có nghĩa là khi đối tượng và chủ thể của nhận thức gặp nhau thì ranh giới giữa nhận thức và đối tượng đều không còn nữa. Đây là trả lời đúng theo tinh thần chính thống của Duy Biểu học. Vật ngã lưỡng vong tức là cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều biến mất. Mất ở đây có nghĩa là mất ranh giới. Tại chúng ta thường nghĩ rằng một bên chúng ta có cái tâm, một bên chúng ta có cái vật. Nhưng khi cái vật và cái tâm xáp lại với nhau thì nó xảy ra cái gì? Ngài nói rằng sự phân biệt giữa cái vật và cái tâm không còn nữa. Tức là tâm và vật là một. Hoặc tâm, vật đều mất đi tính cách có mặt riêng biệt của nó.

Đó là vì thức có nghĩa là nhận thức. Mà nhận thức luôn luôn có hai phần: Chủ thể nhận thức, và đối tượng nhận thức. Chúng ta cứ tưởng rằng có cái nhận thức nằm riêng và cái đối tượng nhận thức nằm riêng, giống như chúng ta có cái thước đo ở trong túi, lấy ra để đo cái bàn. Cái bàn nó riêng và cái thước nó riêng. Chúng ta nghĩ cái thước đó là tâm, và cái bàn đó là vật. Đó là một ý tưởng rất ngây thơ của con người. Chúng ta tưởng cái tâm nó độc lập đối với cái vật. Nhưng theo tinh thần chính thống của Duy Thức thì tâm-vật là một.

Trong Duy Biểu Học chúng ta có học cái gọi là Nhị phần, tức là Kiến phần và Tướng phần. Hai cái đó là hai thành phần chính yếu của thức. Cũng như chúng ta có một đồng xu, thấy có bên trái và bên mặt. Nếu bỏ bên trái đi, thì bên mặt không có. Nếu bỏ bên mặt đi thì bên trái cũng không còn. Cái thức của chúng ta cũng vậy, nó có đối tượng và chủ thể. Đối tượng làm ra chủ thể. Chủ thể làm ra đối tượng. Hai cái đó không thể có mặt riêng biệt được. Những vị nào chưa nắm vững được phần này thì phải học lại Năm mươi bài tụng Duy Biểu.

Trong triết học ngoài đời, người ta cũng đã thấy được điều này. Ví dụ như trong Hiện Tượng Luận, Phenomenology, người ta nói “Ý thức có nghĩa là ý thức về một cái gì chứ không thể nào có ý thức mà không có đối tượng”. Ví dụ tôi có cái buồn, thì buồn đó là buồn ai, buồn gì chứ cái buồn không thể tự một mình nó mà có được. Đối tượng của buồn phải đi theo chủ thể của cái buồn. Cũng như khi tôi giận, thì cái giận của tôi nó có đối tượng. Giận tức là giận ai, giận cái gì, chứ không thể có cái giận suông được. Cũng vậy, khi nói tôi ăn thì phải ăn gì.

Vì vậy trong Duy Biểu Học chúng ta phân biệt tám loại nhận thức, và năm mươi mốt loại tâm hành hay tâm sở. Tất cả những cái đó, cái nào cũng có hai phần. Một phần là chủ thể, tức là kiếnphần; một phần là đối tượng, nghĩa là tướng phần. Hai cái đó chúng có mặt cùng một lúc, không có cái nào trước, không có cái nào sau. Cái thức không có trước, mà cái đối tượng cũng không có sau.

Ví dụ chúng ta có con mắt, và chúng ta có một cây đèn cầy. Con mắt, danh từ Duy Biểu gọi là Căn, và đèn cầy, danh từ Duy Biểu gọi là Phần. Đó là hai trong nhiều điều kiện tạo ra thức. Căn tiếp xúc với trần thì thành thức, mà thức đây là nhãn thức, tức là cái thấy. Không phải con mắt thấy, không phải cây đèn cầy là đối tượng của cái thấy, mà cái thấy ở đây, nó có chủ thể, nó có đối tượng. Cái thấy và cây đèn cầy cùng biểu hiện một lúc.

Cũng như khi chụp hình một người đang ngồi trên ghế, chúng ta ngắm cái hình ở trong máy hình. Máy hình của chúng ta có hình đó, nhưng hình đó không phải là người đang ngồi ở trên ghế kia. Nó khác nhau. Ở đây cũng vậy, căn và trần xúc chạm nhau nó thành thức mà trong thức nó có chủ thể và đối tượng. Nó có tướng phần, và nó có kiến phần, và nó sinh diệt trong từng sát na.

Chúng ta nhìn cái bông hoa và tiếp tục nhìn trong vòng một phút, hai phút, ba phút thì trong vòng hai ba phút đó cái thấy của chúng ta nó sinh diệt, sinh diệt liên tiếp. Cho nên thầy Thường Chiếu nói rằng “Khi ấy cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều không còn”. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi, sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có thể có một chủ thể thường tại để mà tiếp xúc với đối tượng?

Rất rõ, có gì khó hiểu đâu? Làm sao có được một chủ thể thường tại để mà tiếp xúc với một đối tượng thường tại hay không thường tại? Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát na bất đình, thùy thị phan duyên? Đó là những lời của ngài nói. Dịch ra tiếng Việt là “Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có thể có một chủ thể thường tại mà tiếp xúc với đối tượng? Thùy thị phan duyên nghĩa là cái gì là cái làm công việc tiếp xúc đó? Ngài còn nói thêm:

Sinh vi vật sinh, Diệt vi vật diệt, Bỉ pháp sở đắc, Thường vô sinh diệt.

Có nghĩa là: Sinh là các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt, còn đối tượng chứng đắc của chúng ta thì không bao giờ có sinh hay có diệt hết. Tại tu tập là phải có chứng đắc. Tâm của chúng ta là vô thường nên nó sinh diệt, nhưng cái chứng đắc của chúng ta thì lại không sinh, không diệt. Tức là ngài nói tới đối tượng vô sinh, cái thế giới không sinh diệt mà người thành đạo có thể thực hiện được. Câu nói đó của thiền sư Thường Chiếu cho chúng ta thấy rằng cái căn này (căn là cái căn cứ, là cái gốc để phát sinh ra thức), và cái trần này (trần tức là đối tượng) đều là vô thường, chúng thay đổi trong từng giây, từng sát na. Chính cái thức, cái thấy của chúng ta, hoặc cái nghe, cái suy tư của chúng ta cũng thay đổi trong từng sát na.

Thành ra những dụng cụ chúng ta sử dụng để tu học đều vô thường hết. Nhưng khi chúng ta chứng đắc, đối tượng mà chúng ta đạt được là không sinh không diệt, đó là niết bàn, đó là vô sinh diệt, nói tắt là vô sinh.

Điều này cũng không có gì rắc rối, khó hiểu. Nếu chúng ta nhớ lại hình ảnh biển cả và những đợt sóng trên biển. Đứng về phương diện hiện tượng, phương diện bề mặt thì chúng ta thấy có những đợt sóng, có sinh, có diệt, có lớn, có nhỏ. Chúng ta không thấy có gì thường tại hết. Con mắt cũng không thường tại, mà hình ảnh cũng không thường tại, tâm thức cũng không thường tại, đối tượng của tâm thức cũng không thường tại. Nhưng nếu chúng ta có thể tiếp xúc được với bản chất của những cái không thường tại đó, thì chúng ta tìm ra được cái thường tại. Cái đó gọi là không sinh, không diệt. Những đợt sóng này có sinh có diệt, có còn, có mất, có có, có không, có cao, có thấp, có một, có nhiều, là tại vì chúng thuộc về thế giới hiện tượng, thế giới sự vật.

Nếu chúng ta sống sâu sắc từng giây phút của đời sống hàng ngày thì chúng ta tiếp xúc được với bản chất của sự sống. Những đợt sóng kia trở về tiếp xúc được với cái tự tánh nước, thì nó sẽ thấy rằng trong khi những đợt sóng có lên có xuống, có sinh có diệt, có còn có mất thì nước đứng ra ngoài sự sinh diệt, còn mất kia. Và đó là tự tánh vô sinh, vô diệt và là đối tượng của sự chứng đắc.

Chỉ khi nào mình tiếp xúc được với cái vô sinh này thì tự nhiên những cái sợ hãi, lo lắng, buồn tủi của mình cũng tan biến đi. Mình không thấy có sinh, có diệt, có cao có thấp, có một có nhiều, có tới có lui nữa. Cho nên mình sẽ hết khổ, mình nhìn sinh diệt bằng nụ cười.

Kim Chỉ Nam Của Việc Chứng Ngộ

Như vậy chỉ một câu nói này thôi cũng đủ làm kim chỉ Nam cho sự tu học của rất nhiều người. Tôi xin đọc lại câu đó: “ Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều không còn. Tâm thức ta vô thường, thay đổi, sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có thể có một chủ thể thường tại để tiếp xúc với đối tượng?” Tuy vậy sinh là có hiện tượng sinh, diệt là có hiện tượng diệt, còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ có sinh và có diệt.

Đối tượng đó nó từ đâu mà tới? Theo truyền thống của Vô Ngôn Thông thì thiền sư dạy phương pháp gọi là Bất khả đắc, tức là ta không tóm được nó từ bên ngoài chúng ta. Cũng như là đợt sóng, muốn đi tìm bản chất của nó là nước, thì đâu cần phải đi tới với một đợt sóng khác? Chỉ cần trở về với chính tự thân nó thì nó nhận ra rằng mình là nước.

Trong một dịp khác, có một vị đệ tử hỏi thiền sư Thường Chiếu: “Thế nào là pháp thân?” Pháp thân ở đây có cái nghĩa Đại thừa của nó. Chúng ta có nhiều thân, chúng ta có nhục thân, có Phật thân, có pháp thân. Hôm trước trong bài pháp thoại bằng tiếng Anh chúng ta có thực tập. Khi chúng ta đứng trước một cái cây, nhìn cây và nói: Cây ơi! Cây là my true home. Khi nhìn mặt trăng chúng ta nói: Mặt trăng ơi, mặt trăng là nhà của tôi. Mặt trăng là tôi. Đó cũng là một phép quán chiếu để thấy pháp thân của mình. Thân ngoại chi thân. Chúng ta nghĩ rằng thân của chúng ta nằm ở trong da thịt này. Nhưng kỳ thực, nếu quán chiếu, chúng ta thấy thân của chúng ta nằm ở ngoài da thịt của ta. Mặt trời là trái tim của chúng ta, rừng cây là lá phổi của chúng ta. Nếu tất cả những cái đó không có thì chúng ta không thể có mặt. Vì vậy cho nên pháp thân của chúng ta có mặt và chúng ta phải tiếp xúc. Nó có mặt ngay tại đó, trong giờ phút này.

Câu trả lời của thiền sư Thường Chiếu khi một đệ tử hỏi về pháp thân còn rõ ràng hơn:

Tại thế vi nhân thân, Tâm vi như lai tạng, Chiếu diệu thả vô phương, Tầm chi cánh tuyệt khoáng. 
(Thân tuy sống trên đời, Tâm là như lai tạng, Chiếu rạng cả mười phương, Nhưng tìm thì biệt dạng).

Như lai tạng là một danh từ mới. Như lai tạng là một kho tàng không tới không đi, không sinh không diệt. Như lai tạng tức là cõi vô sinh, là cái bản chất của chúng ta, là cái pháp thân của chúng ta. Như lai tạng đó chúng ta không cần phải đi tìm ở đâu hết, không cần đi tìm ở trong tương lai, tại vì chính cái Như lai tạng đó đang chiếu sáng trong cả mười phương, chỉ vì mê mờ cho nên ta không thấy mà thôi. Cho nên khi nhìn mặt trăng mà mỉm cười, nhìn đóa hoa mà mỉm cười thì chúng ta nhận diện được Như lai tạng của chúng ta. Cái thực tánh không còn, không mất, không tới không đi, không sinh không diệt nó có ngay trong giây phút hiện tại, ở đây và đang chiếu sáng. Chúng ta đi tìm thì không có tại vì chúng ta nghĩ rằng nó là một cái gì ở ngoài chúng ta và nó không có mặt ở trong giờ phút hiện tại. Vì vậy cho nên câu trả lời này của thiền sư Thường Chiếu nói lên được tinh thần Bất khả đắc hay Vô đắc của giáo lý truyền thống Vô Ngôn Thông.

Nhưng tìm thì biệt dạng, chúng ta thử nhìn một đợt sóng đang đi tìm nước, rất là buồn cười! Chúng ta đi tìm cái Như lai tạng của chúng ta thì cũng buồn cười như vậy. Thành ra phương pháp thực tập như Ba cái lạy là để trở về tiếp xúc với Như lai tạng của mình, cái pháp thân của mình, cái thực tại không sinh không diệt của mình.

Một hôm có một vị đệ tử tên là Thông Sư tới hỏi thầy: Làm thế nào để chứng đắc được Phật pháp? Thầy Thường Chiếu trả lời: Phật pháp làm sao mà mình có thể chứng đắc được? Tất cả chư Phật trong quá khứ đều đã tu học trên căn bản Chư pháp bắt khả đắc!

Cứ tưởng tượng có một cái gì ở ngoài mà mình chạy đi tìm. Tất cả những cái gì mình đi tìm, mình đã có sẵn ở trong người của mình. Ví dụ mình có cảm tưởng mình là cái nồi thiếu cái nắp, và mình đi tìm cái nắp! Cái cảm tưởng thiếu thốn một cái gì đó là một cảm giác sai lầm, cũng như một đám mây bay trên trời, nó thấy đại dương, rồi nó ao ước được là đại dương. Khi nó bay qua núi Pyrénées thì nó thấy tuyết trắng phau, nó ao ước được làm tuyết. Nhưng có một điều nó không biết là trong bản thân của đám mây, nó có đại dương, nó có tuyết, tại vì tuyết cũng như là biển cả, đều có cùng một bản chất với đám mây. Vì vậy cho nên mình không bằng lòng với hình thái mây của mình, mà mình chỉ muốn trở thành đại dương, muốn trở thành tuyết! Cũng như cây kia, hay bản thân mình, tất cả đều là những cái rất mầu nhiệm. Sự có mặt của mình là một biểu hiện rất tuyệt trần.

Mình là con trai thì cũng tuyệt trần, mình là con gái thì cũng tuyệt trần. Con trai không cần trở thành con gái, con gái không cần trở thành con trai. Mình là mình, đó là điều kỳ diệu nhất rồi, mình đừng tìm cầu một cái gì khác. Nếu là con trai mà nhìn kỹ vào trong con người của mình thì thấy tính chất con gái ở trong mình. Nếu là con gái, nhìn kỹ vào trong bản thân của mình thì thấy tính chất con trai ở trong đó. Nó có! Vì vậy cho nên chuyện mình muốn từ bỏ mình, khước từ mình để trở thành một người khác, là một sự dại dột vô cùng. Là mây, là tuyết, là đại dương, tất cả đều là mầu nhiệm.

Vì vậy cho nên chấm dứt sự chạy tìm thì mình có một cơ hội để tiếp xúc với pháp thân của mình, cái bản chất vô sinh của mình. Đó là đối tượng của sự tu học, và khi tiếp xúc được với cái đó thì tất cả những thèm khát, những ao ước, giận hờn, những kỳ thị, những sợ hãi đều tan biến hết.

Khi thấy được điều đó thì tự nhiên hạnh phúc tới với mình, rất là mầu nhiệm. Mình không cần phải thành sư bà mới có hạnh phúc. Mình không cần phải có một ngôi chùa lớn mới có hạnh phúc, không cần phải làm giáo thọ mới có hạnh phúc. Tôi không cần phải được người này thương thì mới có hạnh phúc, được người kia chấp nhận tôi mới có hạnh phúc! Đơn giản như vậy mà thôi.

Thiền sư Thường Chiếu có biên tập một cuốn sử về Phật giáo Việt Nam. Nhưng tiếc thay cuốn sách đó đã bị thiêu hủy trong chiến tranh khi người Minh sang xâm chiếm nước ta. Chúng ta tìm chưa được cuốn đó. Cuốn sách đó tựa là Nam Tông Tự Pháp Đồ. Nam tông ở đây không phải là Theravada đâu, Nam tông ở đây có nghĩa là Phật giáo ở Việt Nam. Trung Quốc là Bắc tông, còn Việt Nam là Nam tông. Tự pháp tức là những người thừa kế, những thế hệ Phật tử thừa kế nhau trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.

Vào thời nước ta có chiến tranh với nhà Minh, người Minh đã thâu tóm tất cả những sáng tác của người Việt, trong đó có những sáng tác về Phật giáo, chở về Trung Quốc và đốt hết. Sau đó họ đưa sách của Trung Quốc sang để cho người mình học.

Tuy vậy các thầy có chôn giấu một ít sách, cho nên sau khi quân Minh bị đánh bại, thì đào ra được một ít, nhưng binh lửa đã thiêu đốt rất nhiều tài liệu về Phật giáo Việt Nam. Cho đến nay tập sách Nam Tông Tự Pháp Đồ này vẫn chưa tìm được. Sau này hy vọng có người đào xới và tìm ra được nhiều cái mà các tổ đã chôn giấu trong thời loạn ly.

Trước khi thị tịch thầy Thường Chiếu mời các vị đệ tử lại ngồi chơi với thầy, và thầy tặng cho họ một bài thơ như sau:

Đạo bản vô nhan sắc, Tân tiên nhật nhật khoa, Đại thiên sa giới ngoại, Hà xứ bất vi gia? 
(Đạo vốn không nhan sắc, Mà ngày càng gấm hoa, Trong ba ngàn cõi ấy, Đâu chẳng phải là nhà?)

Đại thiên sa giới ngoại tức là trong Tam thiên đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng, thì không nơi nào là không phải nhà của thiền sư. Tại vì người đã tìm ra cái an lạc, cái hạnh phúc rồi thì lúc nào và ở đâu cũng cảm thấy hạnh phúc.

Hà Xứ Bất Vi Gia Và Cách Chuyển Hóa Những Giấc Mơ Do Tiềm Thức Đạo Diễn

Năm 1966, hồi tôi vừa rời quê hương để đi ra nước ngoài, thì cứ tưởng rằng mình chỉ đi vài tháng rồi về. Hẹn với các thầy, các sư cô, các bạn ở trong trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là ba tháng về. Không ngờ tôi ở tới 30 năm rồi! Khi đi là với mục đích nói lên tiếng nói của những người đau khổ, đang bị kẹt giữa hai thế lực chém giết nhau. Một bên là cộng sản, một bên là chống cộng. Đồng bào chết trong bom đạn mỗi ngày và đồng bào không có tiếng nói cho nên tôi phải ra nước ngoài để nói tiếng nói của đồng bào, mà không nói tiếng nói của các phe lâm chiến.

Sau khi tôi đã lên tiếng rồi thì cả hai chính quyền đều không thích tôi. Tại vì hai chính quyền đều muốn tiếp tục cuộc chiến tranh, còn tôi thì nói rằng chúng tôi không muốn tiếp tục chém giết nhau! Tự nhiên tôi trở thành một người bị lưu đày, không về nước được nữa. Trong khi đó tất cả những người thương của mình đều ở trong nước. Mỗi ngày có không biết bao nhiêu công việc phải làm cho đồng bào, cho học trò tại tôi có rất nhiều học trò ở Việt Nam. Bây giờ họ đã già hết rồi.

Hồi đó có những buổi tối tôi nằm mơ thấy mình trở về quê hương. Giấc mơ đó cứ lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Tôi thấy tôi về tới một khu đồi rất xanh, rất mát, và tôi sung sướng được leo lên, tại vì leo lên cánh đồi đó tức là leo về thiên đường của mình. Nhưng luôn luôn leo đến nữa đồi thì có một chướng ngại vật nó ngăn lại và mình không leo lên được nữa. Và luôn luôn tỉnh dậy vào lúc đó!

Nằm mơ thấy về chùa rất nhiều lần. Từ đồi thông ở trước chùa Từ Hiếu đi vào cổng Tam Quan, đi quanh hồ Bán Nguyệt, rồi đi vào sân bên phải, khi bước lên thì cái liêu của Sư Ông nằm bên trái, luôn luôn đi con đường đó. Mỗi khi về chùa đi ngang qua đó là biết Sư Ông của tôi đang ở trong liêu. Có khi thấy Sư Ông đi ra và mình được chắp tay xá Sư Ông. Có những lần khác tôi thấy tôi đi sang phía tháp của các vị tổ, trong đó có tổ Nhất Định. Mỗi lần đi sang bên đó thì thấy khung cảnh bên đó nó sáng, nó đẹp và tôi để rất nhiều thì giờ đi quanh các tháp đó, rồi đi vòng sang phía bên kia để ra bờ hồ trở lại, rồi đi lên đồi, ngang qua chùa Diệu Nghiêm, và trong những giấc mơ đó những con đường đó đẹp vô cùng!

Trong bao nhiêu năm tôi ao ước được về để được đi trên con đường đó, tại vì trong tiềm thức của mình, mình nghĩ rằng đó là những con đường đẹp nhất trên thế gian này. Nếu mình không bị lưu đày, nếu mình biết rằng mai mốt mình có thể lấy máy bay về được quê hương thì có lẽ mình sẽ không mơ nhiều như vậy. Nhưng tại vì mình biết rằng mình không được phép về, cho nên những con đường đó trở thành con đường của huyền thoại. Tại mình khát khao nên mình thấy nó đẹp lên rất nhiều. Và những giấc mơ đó nó lặp đi lặp lại suốt năm. Có khi tới cả một năm rưởi.

Lúc đó tôi đã biết phương pháp quán niệm hơi thở và tiếp xúc với những gì mầu nhiệm trong hiện tại rồi. Cho nên lúc ở Âu Châu cũng như ở Bắc Mỹ Châu, ở các nước như Phi Luật Tân hay Nhật Bản, tôi đều thực tập hơi thở để làm quen với khung cảnh mới, để tìm bạn mới, và tôi cũng đã chơi với trẻ con Pháp, trẻ con Anh, trẻ con Đức, Hoa Kỳ, chơi với những người lớn, và tôi đã kết bạn thêm.

Rồi từ từ tôi làm quen với những trái cây, những loài hoa ở tại Tây phương. Từ từ những mảnh đất không phải Việt Nam nó trở thành quê hương của tôi. Vì vậy một ngày nào đó giấc mơ không còn trở về nữa. Tại vì tôi đã chấp nhận tất cả trái đất này là quê hương của mình! Thành ra nỗi thương nhớ đó nó không còn ray rứt như hồi xưa nữa.

Trong những năm vừa qua, bảy tám năm nay, tôi đã có khả năng bước những bước chân hết sức là hạnh phúc ngay đây, ngay ở Xóm Hạ, Xóm Thượng Làng Mai. Con đường từ Sơn Cốc đi tới Xóm Hạ, con đường từ Xóm Hạ tới Xóm Thượng, tôi thấy chúng cũng mầu nhiệm, cũng sáng rỡ, cũng đẹp không thua gì con đường từ Tam Quan chùa Từ Hiếu, đi qua Hồ Bán Nguyệt, qua tới phòng Sư Ông như hồi nào.

Nó có nghĩa là tôi không cần về quê hương Việt Nam mà tôi vẫn ở trong quê hương Việt Nam được rồi! Và khi thầy trò mình đi thiền hành trên con đường Xóm Thượng thì tôi thấy rất rõ rằng con đường Xóm Thượng rất đẹp và cái đẹp của nó không thua gì cái đẹp của con đường đi vòng quanh hồ của chùa Từ Hiếu. Tôi rất trân quý mỗi bước chân, mỗi giây phút được đi với những người học trò của tôi trên con đường đó.

Sự thực tập của chúng ta là phải nhận diện tất cả những gì có mặt trong giây phút hiện tại, nghĩa là những gì thuộc về quê hương của mình.

Hôm qua, trong khi ngồi thiền tôi thấy ở trên bàn Phật khói nhang tỏa lên một đường rất thẳng, rất đẹp. Và tôi thấy điều đó rất là mầu nhiệm. Tôi còn thấy một cành hoa, cành hoa đó cũng hết sức mầu nhiệm. Tôi cũng thấy bốn trái quýt ở trong một cái đĩa và thấy mỗi trái quýt đó hết sức mầu nhiệm. Rồi tôi nhìn cái bàn, nhìn chiếc chiếu mà cái bàn đặt trên đó, tất cả đều là mầu nhiệm, đều đẹp, đều sáng không thua con đường mà tôi mơ thấy cách đây gần ba mươi năm.

Nếu chúng ta không biết sống trong giây phút hiện tại, không biết quán chiếu để thấy được sự quý giá, sự mầu nhiệm của những gì đang xảy ra chung quanh ta, thì mai mốt chúng ta sẽ mơ thấy những cái của ngày hôm nay, và chúng ta sẽ tiếc nuối, chúng ta sẽ tiếc rằng chúng ta đã không sống trọn vẹn những giờ phút mà chúng ta đã sống. Nếu quý vị thực tập được câu kệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ:

Diệu khúc bản lai tu cử xướng, Mạc tầm Nam Bắc dữ Đông Tây

Dịch là Diệu khúc muôn đời nên cử xướng – Đông Tây Nam Bắc chạy tìm chi? Thì quý vị có thể thấy được cái hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi cây tùng ở đây đều mầu nhiệm, nếu mình không có khả năng nhìn những cây tùng đó ở trong giây phút hiện tại thì mình chưa làm được như Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói. Những con đường thiền hành ở Xóm Thượng và Xóm Hạ của chúng ta ở đây cũng rất mầu nhiệm. Chỗ này không phải là chỗ tạm. Không có chỗ nào là chỗ tạm cả. Chỗ nào cũng là quê hương đích thực của chúng ta cả, và chúng ta có thể có hạnh phúc rất sâu sắc ngay ngày hôm nay.

Tuần trước trong bài pháp thoại tôi có nói rằng chúng ta đừng mong trở thành một cái gì khác. Tại vì chúng ta là chúng ta thì đã là mầu nhiệm lắm rồi. Là sa di cũng rất mầu nhiệm, là tì kheo cũng rất mầu nhiệm, là trăng, là lá cũng đều rất là mầu nhiệm. Là trò, là thầy, ai cũng là mầu nhiệm hết. Ở tại Làng Mai nếu chúng ta sống cho sâu sắc, cho có tỉnh thức thì chúng ta thấy sự mầu nhiệm trong tất cả mọi lá cây, ngọn cỏ. Cây tùng mầu nhiệm đã đành mà cây sồi cũng mầu nhiệm. Con đường đi ra cốc Tỉnh Ngọc đã mầu nhiệm, mà con đường đi xuống hồ sen nó cũng mầu nhiệm. Đó là quê hương của chúng ta. Chúng ta phải chấp nhận, phải thấy nó là hạnh phúc của chúng ta, là ta. Dầu chúng ta có ở đây 10 ngày, 15 ngày hay chúng ta ở một năm hay ba năm, thì chúng ta cũng phải thực tập pháp môn đó, nghĩa là chúng ta phải có khả năng có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.

Trong khi tôi đi thiền hành với đại chúng ở Xóm Thượng hay Xóm Hạ thì tôi thấy được rằng chúng ta đang tiếp nối những gì mà ngày xưa Bụt và giáo đoàn đã làm. Khi tôi ôm bình bát và đi với đại chúng thì tôi thấy mình đang làm đúng điều mà ngày xưa giáo đoàn đã làm. Ngày xưa các thầy cũng ôm bình bát, cũng đi như vậy với Bụt. Ngày xưa các thầy cũng đi thiền hành như vậy với nhau, và mỗi bước chân đã đưa tới sự an lạc và hạnh phúc cho quý thầy. Chúng ta đâu cần phải trở về hai ngàn sáu trăm năm trước mới thấy được cảnh tượng đó, mới sống được trong cảnh tượng đó? Chúng ta đang sống trong cảnh tượng đó ngay ngày hôm nay. Chúng ta cũng có niềm hạnh phúc đó. Nếu chúng ta còn tiếp tục chạy đi tìm phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc thì chúng ta vẫn còn chưa về được quê hương của chúng ta. Cho nên khi ngồi thiền, cũng như khi đi thiền hành, hoặc là khi đánh răng, rửa nồi, chúng ta phải làm những công việc đó như thế nào để chứng tỏ chúng ta là “at home”, chúng ta đã về, chúng ta đã tới, và tất cả các cử động của chúng ta đều là mầu nhiệm hết.

Tuệ Trung Thượng Sĩ có hai câu khác cũng hay lắm:

Tạc dạ nguyệt minh kim dạ nguyệt. Tạc dạ tức là đêm hôm qua; nguyệt là mặt trăng. Mặt trăng của đêm qua. Minh là chiếu sáng; kim dạ tức là đêm nay. Mặt trăng của đêm hôm qua đang chiếu sáng trong mặt trăng của đêm hôm nay.

Tân niên hoa phát cố niên hoa. Tân niên tức là năm mới. Cố niên là năm cũ. Hoa năm mới nó bừng dậy trong hoa năm cũ. Vậy thì khi nhìn mặt trăng của phút hiện tại, mình thấy đây cũng là mặt trăng của ngày hôm qua. Mặt trăng của Bụt thấy hôm qua là mặt trăng mà mình đang thấy bây giờ.

Trong một bài thơ của tôi, tôi có nói rằng: Mặt trời hôm nay vẫn là mặt trời hôm qua, và hình như thiền sư Vô Ngôn Thông cũng có nói: Cổ kim nhật nguyệt cổ kim sơn xuyên. Núi sông hôm nay là núi sông hôm qua. Mặt trăng, mặt trời hôm nay là mặt trăng, mặt trời hôm qua. Vậy thì chuyện mà chúng ta cùng đi thiền hành với nhau ở Xóm Thượng là chúng ta đang làm đúng công việc mà Bụt và các thầy, các sư cô đi thiền hành với nhau ở trên núi Linh Thứu hay ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Tiếp xúc được với cái này thì tiếp xúc được với cái kia. Chúng ta phải đi cho được như vậy. Chúng ta phải có cái hạnh phúc như vậy.

Trúc Thiên dịch hai câu trên như sau:

Năm cũ hoa cười hoa năm mới, Đêm này nguyệt sáng nguyệt đêm qua.

Khi nhìn mặt trăng sáng của đêm nay, mình biết rằng mặt trăng sáng đêm nay tức là mặt trăng sáng đêm qua. Nó chỉ là tiếp tục thôi. Vậy thì bài hát mầu nhiệm đó nó chưa từng bao giờ đứt đoạn, và sự thực tập của chúng ta là phải hát lên, phải đánh khúc nhạc đó lên. Diệu khúc bản lai tu cử xướng, và cái hạnh phúc không phải là mình phải đi tìm ở trong tương lai hay trong quá khứ. Hạnh phúc là không phải đi tìm ở một phương trời Đông, Tây, Nam hay Bắc. Đó là một trong những thông điệp quan trọng nhất của Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Mình đi thiền hành với nhau làm sao để cho giáo đoàn Nguyên thủy của Bụt sống dậy trong giờ phút này, và mình tiếp tục được, Bụt có mặt ở trong ta và giáo đoàn ngày xưa có mặt ở trong ta. Mình ngồi thiền như thế nào để cho Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Hai câu này trích ở trong bài gọi là Đốn Tỉnh. Đốn tỉnh có nghĩa là đột nhiên tỉnh dậy. Trong sự tỉnh dậy đó Tuệ Trung Thượng Sĩ thấy rằng hoa năm mới đang cười nụ cười của hoa năm cũ. Mặt trăng đêm nay nó đang sáng cái sáng của mặt trăng đêm qua. Chúng ta hãy làm cho được điều đó.

Có Khổ Đau Mới Có Hạnh Phúc – Có Hiện Pháp Mới Có Lạc Trú

Trước hết chúng ta thấy khổ đau là một chất liệu rất cần thiết cho hạnh phúc. Nếu không có khổ đau, nếu không có kinh nghiệm về những khổ đau, thì chúng ta không thể có kinh nghiệm về hạnh phúc được. Cũng như khi chúng ta không có ý niệm về trái thì chúng ta không thể nào có ý niệm về phải được. Vì vậy cho nên khổ đau là một phần của sự sống. Chính phần đó góp sức tạo dựng cho cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc. Người chưa từng biết đau khổ, thì người đó cũng chưa từng biết hạnh phúc là gì. Người chưa từng biết đói là gì, thì người đó không thấy được cái hạnh phúc của sự kiện mình được ăn cơm, mình được no đủ. Cái đói nó kinh khiếp vô cùng. Trong chúng ta rất ít người biết thế nào là đói. Cái mà chúng ta thường gọi là đói bụng, đó chưa phải là đói. “Đói thật sự” là một con dao nó cắt xương, cắt thịt chúng ta, nó ghê gớm lắm. Hầu hết những người ngồi trong phòng này chưa ai biết đói là gì, vì vậy cho nên chúng ta cũng chưa biết rõ hạnh phúc của chuyện có cơm ăn mỗi ngày. Khi đói, chúng ta có cảm tưởng như đang bị đốt cháy. Khi lạnh, chúng ta có cảm tưởng da thịt chúng ta đang bị một lưỡi dao cắt vào thịt, vào xương. Tuy vậy, khổ vẫn là cái giúp ta hiểu thấu hạnh phúc là gì.

Cũng như phân bón rất cần cho hoa trái. Nếu không có phân bón thì không thể nào có hoa trái. Nếu chúng ta muốn có cái gọi là hạnh phúc, thì chúng ta phải chấp nhận cái gọi là đau khổ. Khổ đau nó có mặt. Nhờ khổ đau có mặt mà hạnh phúc mới có mặt được. Đó là nhận thức đầu tiên mà chúng ta có thể dùng kinh nghiệm và trí tuệ của chúng ta để khám phá.

Cái cảm giác bình an, thảnh thơi mà chúng ta có là nhờ nó phát sinh từ căn bản mà chúng ta đã trải qua, đó là sự thiếu thảnh thơi, thiếu bình an mà chúng ta đã có trước đó. Cho nên lúc có cảm giác bình an và thảnh thơi thì chúng ta mới cảm thấy an lạc, hạnh phúc.

Có những lúc bị bệnh, bị cảm, nằm tù túng trong căn phòng của chúng ta suốt ngày này qua ngày khác, suốt tuần này sang tuần khác, thì chúng ta mới thấy được cái hạnh phúc, cái nhu yếu được mở cửa đi ra ngoài và hít thở khí trời bên ngoài. Những ai đã từng đau nặng, đã từng nằm trên giường bệnh nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, thì khi bình phục rồi, khi mùa Xuân tới và được mở cửa đi ra ngoài, thì đó là một hạnh phúc rất lớn! Cái hạnh phúc đó, chúng ta biết nó được phát sinh từ kinh nghiệm đã từng bị nằm lâu ngày, tù túng trong gian phòng của chúng ta.

Tại sao cũng là khung trời đó, cũng là bầu khí quyển đó, cũng là những cây cỏ đó mà trong khi đi chúng ta hạnh phúc cực kỳ? Là tại chúng ta đã thiếu nó, chúng ta đã có lúc cần nó mà không có.

Mỗi ngày chúng ta đều được đi trong bầu khí quyển đó, trong thiên nhiên đó, dưới những hàng cây đó, nhưng ta không thấy hạnh phúc bằng. Đó là vì cái khung cảnh, vì kinh nghiệm của chúng ta, hay vì tâm lý của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta được cùng đi thiền hành với đại chúng, nhưng ta đi không được ngon lành bằng, không được hạnh phúc bằng khi chúng ta được đi sau những tuần lễ bị gò bó ở trong căn phòng nhỏ bé của chúng ta!

Vì vậy mà giáo pháp của Bụt dạy rằng hạnh phúc được phát sinh từ cái tuệ giác, cái kinh nghiệm của chúng ta về khổ đau.

Có một ngày nào đó mình sẽ thấy rằng mỗi khi được đi thiền hành là mình mừng rỡ. Mừng rỡ là tại vì mình có nhu yếu rất lớn về chuyện đi thiền hành. Cũng có một ngày nào đó mình sẽ thấy rằng được ngồi thiền trên cái gối của mình là một hạnh phúc rất lớn, chứ không phải là mình bị bắt buộc đến dự thiền tọa mỗi khi nghe tiếng chuông báo chúng. Ngày đó có thể nó chưa tới, nhưng chắc chắn nó sẽ tới. Có những người đợi đến khi già, thật già thì ngày đó mới tới. Có những người may mắn hơn, từ khi còn trẻ đã thấy được cái hạnh phúc đó, đã thấy may mắn được ngồi thiền. Ngồi thiền cũng như đi thiền hành, có thể là một hạnh phúc rất lớn. Tại vì trong lúc đó hạnh phúc đã có thật.

Tại Việt Nam có một bài tụng của những người tu Tịnh độ, trong đó có hai câu:

Một lòng mỏi mệt không nài, Cầu về tịnh độ ngồi đài liên hoa.

Hai câu đó chứng tỏ người thực tập tin rằng cái hạnh phúc ngồi trên đài sen chỉ có trong tương lai khi mình sinh về cõi nước Cực Lạc. Cầu về Cực Lạc ngồi đài liên hoa, còn ở đây thì không có đài liên hoa, và không được ngồi trên đài liên hoa. Chỗ nào mình ngồi cũng là hầm chông, cũng là gai góc hết!

Giáo pháp Hiện Pháp Lạc Trú soi sáng cho chúng ta, cho chúng ta biết rằng chúng ta không cần phải về cực lạc, và không phải cực lạc là nơi duy nhất có những đài sen cho mình ngồi. Nếu chúng ta muốn thì bất cứ nơi nào trên trái đất này cũng có thể trở thành một đài sen cho chúng ta ngồi cả, dù đó là một gốc cây, một tảng đá, hay một bãi cỏ. Nếu biết ngồi thì tức khắc nơi đó biến thành đài sen. Chúng ta không cần “một lòng mỏi mệt không nài”. Ngược lại chúng ta phải thoải mái, phải hạnh phúc thì cái tòa kia mới được gọi là tòa sen. Nhận thức đó, khám phá đó nó có thể đưa chúng ta đi thật xa. Tuy nó là một gốc cây, là một bãi cỏ, một viên đá, nhưng đồng thời nó cũng là một tòa sen.

Cái mà chúng ta nghĩ là vô thường, vô ngã, khổ đau có thể là những chất liệu tạo ra an lạc, ra giải thoát, ra hạnh phúc của chúng ta. Vì vậy sự có mặt của những khổ đau không phải là một trở ngại để chúng ta có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại.

Ví dụ khi chúng ta có nhận thức về vô thường, nếu có nhận thức đứng đắn và sâu sắc về vô thường thì chúng ta sẽ không rơi lệ, sẽ không than khóc vì tính chất vô thường của sự vật, tại vì một nhận thức sâu sắc về vô thường cho chúng ta thấy vô thường là điều kiện tất yếu của sự sống. Nếu vạn vật không vô thường thì sự sống không thể nào có mặt được. Nếu sự vật không vô thường thì hạt bắp chúng ta gieo, không thể nào trở nên cây bắp, và chúng ta sẽ không có trái bắp. Nếu vạn vật không vô thường thì cơn nhức đầu của chúng ta sáng nay sẽ không bao giờ lành.

Vì vậy cho nên vô thường cũng là một tin mừng. Nhờ vô thường mà chế độ độc tài có hy vọng được cải biến thành một chế độ dân chủ. Một chứng bệnh ngày hôm nay nan y, ngày mai có thể trị liệu được. Vì vậy cho nên vô thường không ngăn cản ta ngồi trên đài sen của chúng ta.

Vô ngã cũng vậy, nếu có nhận thức vững chãi và sâu sắc về vô ngã, thì chúng ta thấy vô ngã là một nền tảng tất yếu của sự sống. Nếu không có vô ngã thì không thể nào có sự sống, tại vì sự sống được cấu tạo bằng sự tương tức, tương nhập của các hiện tượng, cho nên nếu các hiện tượng có ngã thì chắc chắn sẽ không có sự sống. Nếu mặt trời chỉ là mặt trời, mặt trời không thể đi vào trong cây, thì cây không thể nào mọc lên. Nếu đám mây chỉ là đám mây, đám mây không thể đi vào trong cây thì cây cũng không thể mọc lên được. Vì vậy cho nên vô ngã là nền tảng tất yếu của sự sống.

Khi nhìn sâu vào, chúng ta thấy những hiện tượng như sinh, lão, bệnh, tử cũng là những điều kiện tất yếu của sự sống, tại vì vô thường có nghĩa là sinh ra, có mặt một thời gian, chuyển biến, rồi hoại diệt. Cái quá trình sinh, trú, diệt rất là tất yếu để giúp cho sự sống tiếp tục. Trong cơ thể của chúng ta mỗi ngày có hàng triệu tế bào bị hủy diệt và cả hàng triệu tế bào khác được sinh ra và lớn lên. Đi tới đâu thì chúng ta để rơi rụng những tế bào cơ thể của chúng ta tới đó nhưng chúng ta không thấy mà thôi. Mỗi khi chúng ta gãi thì có thể là hàng triệu tế bào rơi rụng! Khi tắm, chúng ta kỳ cọ cho sạch đất và chúng ta nghĩ đất đó ở bên ngoài đi vào, nhưng điều đó không đúng hoàn toàn. Cũng có đất từ không khí bám vào cơ thể ta, nhưng phần lớn những cáu ghét mà chúng ta kỳ cọ ra, là những tế bào chết của cơ thể chúng ta. Như vậy nếu chúng ta phải làm đám ma mỗi khi có một tế bào chết đi, thì mỗi ngày chúng ta phải làm đám ma tới hai ba chục triệu lần! Chịu sao cho nổi?

Sự sống trên trái đất cũng vậy, cái chết nó xảy ra trong từng sát na, và cái chết đó là điều tất yếu để cho sự sống tiếp tục. Cái chết là một phần của sự sống, và cái sống cũng là một phần của sự chết. Nhìn sâu, nhìn kỹ thì chúng ta có thể siêu việt lên cái ý niệm sống chết. Cho nên những cái mà ban đầu chúng ta nói là khổ, nếu quán chiếu sâu sắc thì chúng ta thấy chúng không phải là như thế, vì vậy một nụ cười thản nhiên có thể nở trên môi chúng ta và chúng ta có thể sống an lạc và hạnh phúc được mà không bị những cái đó đe dọa. Nói khác đi, chúng ta có thể an khi khổ.

Kế đến, lạc trú để đừng trôi lăn. Hiện pháp lạc trú còn có ý nghĩa rất quan trọng là chúng ta đừng để trôi lăn vào những mơ tưởng, những ước mơ về tương lai. Tất cả chúng ta đều có tập khí, có thói quen đầu tư cho tương lai. Chúng ta làm gì cũng là để cho tương lai hết. thói quen đó đã có từ lâu, bắt đầu từ các thế hệ tổ tiên, và chúng ta tiếp nhận tập khí đó.

Rủ nhau đi cấy đi cày, Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu!

Thành ra hiện tại chỉ là khó nhọc mà thôi! Tư tưởng này cũng giống như câu trong bài tụng: Một lòng mỏi mệt không nài, tức là hiện tại thì chỉ có thể cực nhọc thôi, nếu không chấp nhận sự cực nhọc ngày hôm nay thì ngày mai không có hạnh phúc.

Niềm tin “hiện tại phải cực nhọc để ngày mai có hạnh phúc” nó trở thành thâm căn cố đế ở trong tâm tưởng của chúng ta. Đó là một tập khí rất lớn. Chúng ta làm gì cũng là để cho tương lai hết. Phương pháp để ngừng tập khí đó để có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, là chỉ có pháp môn Hiện Pháp Lạc Trú mà thôi.

Xét lại thì chúng ta thấy loài người rất có khả năng xây dựng tương lai, lo lắng cho tương lai, nhưng lại không có khả năng sống hạnh phúc trong hiện tại! Rất ít người trong chúng ta có khả năng sống trong giờ phút hiện tại.

Vấn đề là chúng ta đợi mai mốt vãng sanh qua thế giới Tây phương mới ngồi trên đài sen hay chúng ta nên ngồi trên đài sen ngay từ bây giờ? Cái tọa cụ của quý vị cao 15 hay 25 phân nó có thể là đài sen, và quý vị thực tập như thế nào để có thể ngồi yên trên tọa cụ đó mà hạnh phúc như là mình đang ngồi trên đài sen. Tại sao mình phải đợi thành Bụt rồi thì mới ngồi trên đài sen? Tại sao mình không ngồi trên đài sen ngay bây giờ? Và nếu mình ngồi được trên đài sen rồi thì tại sao mình cần cầu xin phải thành Bụt?!

Trong lúc hầu hết mọi người trong xã hội đều đang bận rộn, đang lo lắng, đang chạy vạy để tìm một tương lai tươi sáng hơn, trong số đó có các người thương của chúng ta, có cha mẹ, anh chị, cô bác, chồng vợ của chúng ta, thì chúng ta được ngồi đây và ngồi đây để làm gì? Có phải cũng là để tìm một tương lai hay không, hay là để học được một pháp môn để có thể ngồi ngay trên tòa sen trong giờ phút hiện tại?

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thực tập điều đó hay không? Chúng ta có thực tập mỗi khi ngồi là ngồi yên, ngồi vững, ngồi hạnh phúc trên tòa sen an lạc của chúng ta không, hay chúng ta vẫn phóng tâm nghĩ tới tương lai, nghĩ rằng mai mốt ta sẽ làm cái này, cái kia. Và khi đi, chúng ta có bước những bước vững chãi thảnh thơi như chúng ta bước trong cõi tịnh độ không, hay là đợi tới ngày vãng sanh rồi thì “sang đó” ta mới học đi, học đứng? Bây giờ mà không bước được thì mai mốt sức mấy mà có thể bước ở bên đó! Chúng ta có phụ lòng những người thương của chúng ta hay không?

Thành ra mỗi bước chân của chúng ta ở đây là chúng ta cũng bước cho họ, mỗi giây phút ngồi trên tọa cụ là chúng ta ngồi cho họ. Ai trong chúng ta có khả năng đó? Ai có khả năng ngồi được như thế, bước những bước chân như thế, nếu không phải là chính chúng ta?

Ta trở lại với các thiền sư gốc rễ của thiền phái Trúc Lâm.

THIỀN SƯ HIỆN QUANG

Thiền sư Hiện Quang là học trò của thiền sư Thường Chiếu, đã được học với thiền sư Thường Chiếu, nhưng đến khi thầy Thường Chiếu mất, thì thầy Hiện Quang vẫn chưa đứng vững được, vì còn quá trẻ, mới có 21 tuổi. Khi thầy Hiện Quang thấy mình còn kém về học hỏi và tu tập thì thầy có than một câu.

Có thể là thầy Hiện Quang đã được xuất gia hồi khoảng 15 hay 16 tuổi, được ở với thầy bổn sư bốn, năm năm, và Thường Chiếu là một đại thiền sư, rất giỏi. Nhưng Hiện Quang vì còn trẻ quá cho nên không hạ thủ công phu, không lo tu, lo học. Đột ngột bổn sư qua đời cho nên thiền sư Hiện Quang cảm thấy bị hụt hẫng, và than với chính mình. Câu than đó được ghi lại trong sách Thiền Uyển Tập Anh: Ta cũng như đứa con của đại phú gia, khi cha mẹ còn sống thì không biết trong nhà đầy châu báu. Khi cha mẹ chết thì trở nên bần cùng, nghèo khổ.

Sau đó thầy Hiện Quang đi chu du trong thiền giới để tìm thầy. Một hôm tại chùa Thánh Quả, được thầy Trí Không nói một câu làm tâm tư khai sáng, và thầy bắt đầu tu học đàng hoàng.

Thầy Hiện Quang là người rất xinh đẹp, dáng vóc rất khả ái, giọng nói rất êm dịu, con người rất thanh tú. Cũng vì vậy cho nên thầy bị mang tiếng, tại vì có một vị công chúa tên là Hoa Dương Công Chúa thường hay tới chùa để cúng dường và nghe pháp, rồi có người nói ra nói vào. Nhưng thầy đâu có đuổi Hoa Dương Công Chúa đi được, cho nên cuối cùng thầy phải bỏ chùa ra đi!

Thầy đi vào núi Uyên Trình và học với một thiền sư tên là Pháp Giới. Thầy tuyên bố rằng: Nếu ta không lấy nhẫn nhục làm áo giáp, và lấy tinh tiến làm khí giới, thì ta không thể nào phá được ma quân phiền não và đạt được quả giác ngộ vô thượng. Lúc đó là quyết tâm không ở chùa thành phố nữa mà đi vào chùa núi để hạ thủ công phu!

Thầy vào một ngọn núi gọi là núi Từ Sơn, đốn cây làm một cái am để cư trú, và thầy đi kinh hành trong rừng. Đi đâu cũng mang theo một cái bao vãi, giống như Bố Đại Hòa Thượng. Đến chỗ nào thấy đẹp, thấy thích hợp thì trải bao ra ngồi thiền. Sách Thiền Uyển Tập Anh cho biết những loài ác thú trông thấy thầy thì không tới xâm phạm.

Lúc đó vua Lý Huệ Tông tức là vua chót của đời Lý, và là cha của Lý Chiêu Hoàng, nghe tiếng thầy rất đạo đức, nên cho người vào núi mời thầy về cung, nhưng thầy từ chối. Đây là câu thầy nói để từ chối lời thỉnh triệu của vua, rất là khiêm nhường: Bần đạo sanh ra trên đất của vua, ăn lộc của vua, nhưng ở trong núi thờ Phật và tu hành đã lâu năm, công đức chưa được thành tựu, rất lấy làm hổ thẹn, nay nếu về thăm vua thì chẳng cống hiến gì cho việc trị an của vua, mà lại còn bị chúng sinh bài báng (Chắc thầy cũng vẫn còn nội kết về chuyện Hoa Dương Công Chúa!). Huống chi bây giờ tại kinh đô đang có nhiều vị cao tăng đang hành đạo thì đâu cần phải ông thầy tu áo rách này làm gì!

Sau cùng thầy Hiện Quang tìm lên núi Yên Tử rồi cư trú luôn tại đó. Vì vậy chúng ta có thể nói Hiện Quang thiền sư là người khai sơn núi Yên Tử, và núi Yên Tử là đại bản doanh của thiền phái Trúc Lâm ngày nay. Các sư chị Chân Đức, Diệu Nghiêm đều đã được leo lên núi Yên Tử.

Hiện Quang thiền sư truyền pháp cho một người đệ tử tên là Đạo Viên, Khi Trần Thái Tông bỏ lên núi thì nhà vua đã gặp Đạo Viên thiền sư và vua ngỏ ý muốn đi tu. Nhưng vì Trần Thủ Độ khám phá ra được, không cho tu, thành ra vua bắt buộc phải về lại kinh đô.

Nhà vua đã nghe thầy Đạo Viên dặn rằng: Trong khi làm chính trị, trong khi ở ngoài đời thì mình vẫn tu học được. Vua đã nghe lời thầy Đạo Viên một cách tuyệt đối. Vì vậy khi làm vua, Trần Thái Tông đã sống đời sống của một Phật tử tu học rất tinh chuyên.

Chúng ta đã biết rằng mỗi ngày vua công phu đến 6 lần. Vua thực tập theo nghi thức Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi do chính vua sáng tác. Vì vậy tuy là làm vua, tuy là cư sĩ, nhưng Thái Tông cũng là một gốc rễ rất quan trọng của thiền phái Trúc Lâm. Đệ tử xuất gia đắc pháp của Đạo Viên là Quốc Sư Đại Đăng.

Vua Thái Tông dạy con rất kỹ. Các con của vua Thái Tông đều tu học đàng hoàng hết. Người con được truyền ngôi là Thánh Tông, rất giỏi Phật pháp, và đã làm những bài thi kệ rất hay. Con của Thánh Tông là Nhân Tông cũng đã từng bỏ lên núi Yên Tử muốn tu, nhưng rút cuộc cũng phải về để làm vua!

Chúng ta đã học về thiền sư Thường Chiếu, chúng ta đã nghe qua về thiền sư Hiện Quang. Chúng ta đã học về thiền sư cư sĩ Trần Thái Tông. Bây giờ trước khi học về vua Nhân Tông tức là thiền sư Trúc Lâm, chúng ta phải học về một thiền sư cư sĩ khác, đã từng dạy vua Nhân Tông hồi vua còn nhỏ tuổi, đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ.

THIỀN SƯ TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

Đời Trần có ba thiền sư cư sĩ rất nổi tiếng mà các thầy và các sư cô hồi đó cũng có đến để học đạo. Đó là Ứng Thuận, Thái Tông, và Tuệ Trung. Mong rằng quý vị đều có một tập Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, tại vì cuốn này hay lắm. Những giáo lý của Tuệ Trung Thượng Sĩ rất là hùng vĩ, rất cao siêu, trong đó sức mạnh của giải thoát của giác ngộ toát ra một cách rất lớn lao.

Khi đọc Tuệ Trung Thượng Sĩ chúng ta thấy rằng năng lượng của Tuệ Trung Thượng Sĩ không thua gì năng lượng của thiền sư Lâm Tế bên Tàu.

Tuệ Trung Và Cách Đập Phá Lưỡng Nguyên

Trước đây chúng ta đã nhìn sâu để thấy được khuynh hướng muốn đả phá sự bám víu vào danh từ và khái niệm, ví dụ như danh từ “Pháp thân thanh tịnh”. Những công thức như “Sắc tức là không, không tức là sắc”.

Hôm nay chúng ta nhìn vào một khía cạnh khác của giáo lý Tuệ Trung Thượng Sĩ là đập phá quan niệm “Lưỡng nguyên”, Dualism.

Khi tu tập chúng ta có ý niệm rằng từ mê chúng ta chuyển thành ngộ, từ phàm chúng ta chuyển thành thánh. Khi đặt ra vấn đề giải thoát, chúng ta dựng lên một ranh giới ngăn cách giữa triềnphược và giải thoát. Ví dụ chúng ta đang đứng ở đây và phía này là phía triền phược, tiếng Bắc đọc là triền phọc, tức là bị ràng buộc. Chúng ta có cảm tưởng là ta bị ràng buộc. Vì vậy cho nên chúng ta muốn bước một bước về phía bên kia để bỏ rơi sự triền phược lại đàng sau. Phía bên kia gọi là phía giải thoát. Vậy thì chúng ta có một quan niệm lưỡng nguyên là tại chúng ta thấy có hai cái, một là triền phược, một là giải thoát, một cái ta cần bỏ đi, và một cái ta cần phải đi tìm. Bên này là mê, bên kia là ngộ. Bên này là sinh tử, bên kia là niết bàn. Bên này là phàm phu, bên kia là thánh, tức là người giải thoát. Thành ra những danh từ này chúng đối chọi nhau chan chát. Và trong tâm của chúng ta, chúng ta cứ nghĩ rằng có một cái gì đó chúng ta phải buông bỏ, và có một cái gì đó chúng ta phải nắm bắt.

Vì vậy mới có pháp môn gọi là Vô Đắc, tức là có gì để mình nắm bắt đâu? Vô Thủ, Vô Xã, tức là không có gì để nắm bắt mà cũng không có gì để buông bỏ cả. Trong khi đó thì Tuệ Trung Thượng Sĩ nói rằng cái ranh giới phân biệt giữa phàm và thánh, mê và ngộ, triền phược và giải thoát, sinh tử và niết bàn là nguồn gốc của mọi sự ràng buộc, mê lầm. Nó là sợi dây buộc chúng ta trong sinh tử và khiến cho chúng ta mãi mãi là kẻ phàm phu.

Chúng ta hãy đọc vài lời đó của Tuệ Trung Thượng Sĩ:

Thân từ vô tướng, vốn là không, Huyễn hóa phân ra thành “nhị kiến”,

Đọc những bài này chúng ta phải cẩn thận lắm mới được, nếu không thì chúng ta chỉ tiếp nhận danh từ thôi!

Câu chữ Hán là: Thân tùng vô tướng bản lai không, Huyễn hóa phân sai thành “nhị kiến”. Vô tướng là một trong ba cánh cửa mở vào giải thoát, gọi là Tam giải thoát môn. Ba cánh cửa đó là Không, Vô tướng, và Vô tác. Khi chúng ta nhận thức một cành tre, chúng ta có một tri giác về cành tre, một cái tưởng về cành tre gọi là “trúc tưởng”, đó là vì ta căn cứ trên một cái tướng, tướng tre. Nhờ những dấu hiệu nào đó mà chúng ta mới có cái nhận thức về cành tre, ví dụ như màu xanh, những ngọn lá thuôn dài, danh từ tre v.v… Tri giác của chúng ta, cái tưởng của chúng ta hoàn toàn căn cứ trên những dấu hiệu gọi là tướng.

Khi có tướng tre thì ta sẽ có tướng không tre. Ví dụ như cành đào này, nó là một cái pháp được gọi là đào. Mà đào tức không phải là tre. Tre không phải là đào. Đó là cách nhìn của người thông tục, của người chưa biết quán chiếu. Nếu bắt đầu nhìn sâu thì từ từ chúng ta thoát được cái tướng, và chúng ta thấy được cái vô tướng của tre, vô tướng của cành đào.

Ví dụ nhìn sâu vào đây thì chúng ta thấy rằng cành tre này, cái mà ta gọi là tre này nó chỉ được làm bằng những yếu tố không phải tre mà thôi, ví dụ như là ánh sáng. Ban đầu chúng ta đâu có biết rằng màu xanh này là ánh sáng? Nhưng chính ánh sáng mặt trời đã làm ra màu xanh. Ánh sáng mặt trời và các chất khí ở trong không gian đã làm ra màu xanh. Vì vậy nhìn sâu, nhìn kỹ thì thấy rằng tre được làm bằng những yếu tố không phải là tre. Chúng ta còn thấy có một đám mây đang bay lơ lửng trong cành tre, và ta không cần phải là thi sĩ mới thấy được như vậy. Ta chỉ cần làm người quán chiếu cũng có thể thấy được, là tại vì chúng ta biết rằng nếu không có đám mây trên trời và nếu không có mưa thì sức mấy mà cây tre này mọc lên để chúng ta cắt một cành vào cắm? Cho nên ở trong tre có sự có mặt của đám mây, và do đó mà ta thấy rằng tre không phải là tre mà thôi. Tre còn là ánh sáng, tre còn là đám mây, và dần dần cái tướng tre như là một biệt lập với tất cả thế giới không tre, nó bị xóa nhòa đi. Trong tre chúng ta thấy đất, thấy cả những chất khoáng ở trong đất. Tre là gì? Tre là một cái gì được làm bằng những yếu tố không phải là tre.

Khi thấy được như vậy, ta bắt đầu tiếp xúc được với tính cách vô tướng của tre, và ta không còn bị kẹt vào tướng tre nữa. Cành đào cũng vậy, anh cũng vậy, tôi cũng vậy. Vì vậy cho nên khi tu học chúng ta đừng có bị kẹt vào tướng, chúng ta phải quán chiếu để đừng bị kẹt vào những dấu hiệu bên ngoài gọi là tướng. Cái đó gọi là Vô tướng.

Trong kinh Kim Cương Bụt có nói tới bốn trong những cái tướng mà chúng ta phải vượt thoát.

Trước hết là tướng ngã. Tướng ngã tức là cái ta. Nếu chúng ta theo cùng một phương pháp này để quán chiếu thì chúng ta thấy cái ta này được làm bằng những yếu tố không phải là ta. Ta được làm bằng tổ tiên, bằng cha mẹ, bằng thực phẩm, bằng không gian, bằng thời gian, bằng xã hội, bằng giáo dục, bằng tâm linh. Và khi nhìn vào ta thì ta thấy toàn là những yếu tố không ta. Vì vậy mà ta thấy được bức tường thường giam hãm ta nó tan biến, đồng thời ta thấy được ta là tổ tiên ta, là con cháu ta, là gia đình ta, là bạn bè ta, là vũ trụ.

Đó là quán vô tướng để phá ngã. Ngã được làm bằng những yếu tố phi ngã. Trước đó thì ngã là cái đối nghịch với phi ngã, không phải là phi ngã. Bây giờ ngã là phi ngã. Cái thấy đầu gọi là tướng, gọi là nhị kiến. Cái thấy sau đó gọi là vô tướng, là bất nhị.

Tướng thứ hai mà Bụt dạy chúng ta phải vượt thoát là tướng nhân. Nhân tức là người. Người ở đây là một chủng loại. Chữ nhân đây không có nghĩa là người khác. Nhìn sâu vào người chúng ta thấy người được làm bằng những yếu tố không phải là người, những yếu tố phi nhân. Phi nhân ở đây không phải là không có lòng nhân ái. Phi nhân ở đây có nghĩa là không phải là người, ví dụ như con bò, cây tre, đám mây, đều không phải là người. Tất cả những cái không phải là người đều gọi là phi nhân cả.

Khi quán chiếu, chúng ta thấy rằng cái chủng loại gọi là người, không thể nào có mặt được nếu không có những chủng loại khác như cầm thú, cỏ sây, đất đá. Cho nên tôi thường nói kinh Kim Cương là văn bản xưa nhất dạy về sự bảo vệ sinh môi, dạy về sự bảo vệ hoàn cảnh sinh sống của con người. Tại vì muốn bảo vệ con người thì phải bảo vệ những chủng loại khác, như là thú vật, cỏ cây, đất đá, sông núi. Nếu mình làm ô nhiễm, mình tàn sát những chủng loại khác, thì chủng loại người cũng tiêu luôn. Điều này ta thấy rất rõ trong kinh Kim Cương: Cần phải loại bỏ ý niệm nhân như là một chủng loại có thể tồn tại độc lập. Nhìn vào nhân chúng ta thấy toàn là những yếu tố không phải là nhân, vì vậy cho nên thương con người thì phải thương những chủng loại khác. Bảo vệ con người thì phải bảo vệ những chủng loại khác.

Nếu chúng ta bị kẹt vào cái tướng nhân như là một hiện tượng có thể tồn tại độc lập, thì chúng ta không thấy được chuyện cần bảo vệ sinh môi đó.

Kế đến, chúng sanh là một cái tướng khác mà mình phải vượt thoát. Chúng sinh tức là những loại hữu tình, những loài có sinh mạng. Chúng ta biết rằng nhìn vào những loài hữu tình chúng ta thấy những yếu tố vô tình như là đất đá, cỏ cây. Và chúng ta biết nếu đất đá, cỏ cây mà bị hủy diệt, bị ô nhiễm, thì các loài gọi là hữu tình cũng không thể có mặt được, vì chúng sinh được làm bằng những yếu tố phi chúng sinh. Đạo Bụt chia chúng sanh ra làm hai loài, một là hữu tình, hai là vô tình.

Trong bài tụng của chúng ta: Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí, có nghĩa là tình và vô tình, hai loài đó đều thành Phật hết, đó là lời nguyện của người tu. Các loại chúng sanh, và các loại phi chúng sanh đều có thể hoàn thành sự nghiệp giác ngộ. Rất là hay.

Trịnh công Công có lời ca: Làm sao em biết bia đá không đau? Tức là cũng có ý nói rằng những loại mình cho là vô tình, nó cũng có tình ở trong đó. Khi anh ta nói rằng Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau thì cũng có hàm ý đó.

Tướng chót mà Bụt dạy ta phải thắng vượt là tướng thọ giả, tức là thọ mạng. Thọ mạng tức là giai đoạn sinh mạng mà mình gán cho mình. Ví dụ như mình nghĩ rằng mình sẽ sống được bảy mươi năm thì mình nói thọ mạng mình là bảy mươi năm. Đó là một cái tướng sai lầm. Tại vì cái thọ mạng của chúng ta là vô lượng. Trước khi sinh không phải là chúng ta không có, và sau khi chết cũng không phải là chúng ta không có. Ý niệm có và không là hai cái tướng. Vì vậy cho nên nghĩ rằng mình đã sinh ra trong một thời điểm nào đó và mình sẽ chết đi ở một thời điểm nào đó. Trước hai thời điểm đó mình không có mặt, đó là một cái tưởng rất sai lầm.

Làng Mai Và Phương Pháp Đập Phá Lưỡng Nguyên

Khi thực tập ba cái lạy mỗi tối là chúng ta đả phá tướng thứ tư để thấy rằng thọ mạng của mình là vô lượng, cũng như thọ mạng của chư Bụt và chư vị Bồ tát. Vậy khi nhìn vào thân ngũ uẩn của chúng ta, tức là sắc, thọ tưởng, hành, và thức, hay khi chúng ta nhìn vào bất kỳ một hiện tượng nào, thì chúng ta phải biết nhìn để có thể tiếp xúc được với bản chất vô tướng của nó. Khi tiếp xúc được với tính vô tướng thì chúng ta cũng tiếp xúc được với tính không. Vậy thì thực tập ba cái lạy là một cách để đập phá lưỡng nguyên.

Không tính là một cái gì rất tích cực chứ không phải tiêu cực. Tại vì chữ không ở đây nó không có nghĩa là không có đó. Từ Hán Việt “Không” không phải là một từ hay. Thành ra các nhà học giả và các nhà hành giả ở Việt Nam, trong thế hệ tới, nếu được thì nên tìm một chữ khác để thay cho chữ không, tại chữ không nó có thể đưa đến hiểu lầm.

Chữ không có nghĩa là không có. Trong khi đó thì nguyên văn tiếng Phạn là ((nyat(. ((nyat( không có nghĩa là không có, mà nó có nghĩa là trống rỗng ở bên trong. Chúng ta có danh từ “Rỗngkhông” và “Trống không”. Tại vì chữ “không” người ta có thể hiểu là non existence, tức là không có. Mà như vậy là không đúng. Chữ ((nyat( không có nghĩa là không có mặt, mà nó có nghĩa là rỗng.

Ví dụ cái ly này, bên trong là rỗng, the cup is empty, tức là không có nước, nhưng không có nghĩa là không có cái ly. Vì vậy câu hỏi thông minh mà chúng ta cần hỏi là “Cái gì không?” Không phải cái ly không có. Hoặc “Cái gì rỗng?” Cái gì không có trong đó? Và ta thấy chữ Empty hay hơn nhiều. Tại vì khi nói empty thì chúng ta hỏi Empty of what? Cái ly này đang trống, nhưng trống gì? Ly trống nước, không có nước ở trong đó. Rất đúng.

Nhưng chúng ta không thể nói cái ly này là trống không khí. Cái ly này đang đầy không khí. Muốn cho cái ly đầy hay vơi thì cái ly phải có mặt đó. Vì vậy nói cái ly là không, nó không có nghĩa là không có cái ly. “Cái ly không” là cái ly không chứa đựng một nội dung nào cả. Cho nên chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ như thế nào để thấy rõ rằng chữ ((nyat( nó có nghĩa là “trống rỗng”, một sự có mặt độc lập.

Cũng vậy, cành tre này nó chỉ có thể có mặt đồng thời với đám mây, với ánh sáng, với đại địa, với muôn ngàn yếu tố khác. Nó không thể một mình mà có mặt được. Nó không có một sự có mặt độc lập và riêng biệt, mà sự có mặt độc lập và riêng biệt đó, danh từ Phật học gọi là ngã. Vậy thì không ở đây là sự trống rỗng của một cái ngã riêng biệt, của một sự có mặt riêng biệt. Tôi và anh cũng vậy, chúng ta vô ngã, chúng ta có mặt, nhưng chúng ta có mặt một cách vô ngã, nghĩa là tôi không thể tự mình có mặt riêng biệt được, tôi phải nương tựa vào tất cả những yếu tố khác thì tôi mới có mặt được. Thành ra không ở đây nó có nghĩa là cùng nhau mà có mặt. Có mặt một lúc với nhau, nương vào nhau mà có mặt thì gọi là không, chứ “không” ở đây không có nghĩa là không có mặt. Cành tre nó có mặt chứ đâu phải không? Nhưng nó có mặt đồng thời với tất cả những cái không phải là tre. Nếu mình lấy mặt trời ra, lấy ánh sáng ra, lấy nước ra, lấy đám mây ra thì cành tre này không có mặt được. Cái đó gọi là không. Điều đó trong kinh Trung A Hàm Bụt có nói tới một cách rất ngắn gọn: “Nhược thử hữu tức bỉ hữu”. Chỉ có sáu chữ nhưng rất là sâu sắc. Nó có nghĩa là tại vì cái này có mặt, cho nên cái kia có mặt. Tại vì ánh sáng mặt trời có mặt cho nên cành tre có mặt. Tại vì đám mây có mặt cho nên cành tre có mặt. Tại vì anh có đó cho nên tôi có đây. Cái đó gọi là tương tức.

Vì vậy nếu có người hỏi: Quý vị theo đạo Bụt thì quý vị hãy nói cho chúng tôi biết thế giới này được sinh thành bằng cách nào, và ai đã tạo ra thế giới này? Thì câu trả lời của chúng ta là: Theo giáo lý của đạo Bụt thì cái này có mặt là tại cái kia nó có mặt. Đơn giản hết sức, nhưng thâm trầm hết sức. Là tại vì một cái có mặt nó kéo theo sự có mặt của tất cả các cái khác. Sự có mặt của một hạt cát nó kéo theo sự có mặt của toàn vũ trụ! Nếu anh có cách nào làm cho hạt cát đó không có mặt nữa thì anh có thể làm cho tất cả vũ trụ không có mặt. nhưng thực tế thì không có cách nào làm cho một hạt cát không có mặt được, tại vì hạt cát nó chứa đựng toàn vũ trụ, trong đó có tôi và có anh.

Vì vậy chữ “không” này nó có nghĩa là nương vào nhau mà có mặt chứ không phải là sự vắng mặt của các hiện tượng. cho nên chữ “không” mà mình dùng mấy ngàn năm nay nó có thể chưa phải là chữ hay nhất. Có thể có những chữ Nôm mà sau này chúng ta có thể dùng được, như là “sự trống”, hay là “rỗng”, “rỗng tuếch”, tức là không có một cái gì riêng biệt và bất biến ở bên trong, không có cái lõm bất biến ở bên trong.

Nhìn vào cành đào, chúng ta cũng thấy tính không của cành đào, tính rỗng của cành đào. Nhìn vào cành tre, chúng ta thấy cái tính rỗng của cành tre. Nhìn vào bản thân, chúng ta cũng thấy cái tính rỗng của bản thân.

Nhưng cái rỗng đó rất là mầu nhiệm. Nhờ cái rỗng đó mà mình có được. Nhờ cái rỗng đó mà khi tiếp xúc với bản thân, mình thấy có Bụt, có tổ tiên tâm linh, có tổ tiên huyết thống, có đủ hết. Nếu không có cái rỗng đó thì làm gì có mình? Vì vậy “không” là một yếu tố rất mầu nhiệm.

Cách Mở Tam Giải Pháp Môn Của Làng Mai

Ngày xưa vào thế kỷ thứ 2 có một nhà Phật học nổi tiếng tên là Long Thọ. Ngài có nói một câu rất hay:

Dĩ hữu không nghĩa cố, Nhất thiết Pháp đắc thành.

Có nghĩa là nhờ cái tự tánh không cho nên tất cả mọi hiện tượng đều được thành lập. Vì vậy chữ “không” không phải là một nốt nhạc tiêu cực, nó chỉ sự vắng mặt của tất cả mọi hiện tượng, mà nhờ tính không đó nên tất cả mọi hiện tượng đều có thể có mặt. Nhờ tính không mà chúng ta có cành tre đẹp như thế này. Nhờ tính không mà chúng ta có cành đào đẹp như vầy. Nhờ tính không mà chúng ta có sư anh, có sư chị, sư thầy, có ánh nắng, có tiếng chim hót, có vũ trụ. Cho nên chúng ta cần biết rằng ((nyat( là bản chất của sự có mặt của tất cả mọi hiện tượng. ((nyat(tức là “không tướng”, thị chư pháp không tướng.

Không (Tiếng Phạn là ((nyat() và vô tướng (Tiếng Phạn là Animitta) là hai cánh cửa giải thoát. Cánh cửa thứ ba là Vô tác hay còn gọi là Vô nguyện (Tiếng Phạn là Apra(ihita.

Vô tác tức là mình khỏi phải làm gì thêm nữa, rất là sướng! Không cần phải chạy, không cần phải lao tác mệt nhọc. Mình là cành tre, tại sao mình lại muốn trở thành cành đào. Cành tre không mầu nhiệm sao? Tại sao ngày hôm nay mình không chịu, mình phải đợi tới ngày mai mình mới cười, mình mới có hạnh phúc?

Vô tác là không đặt trước mình một đối tượng để chạy theo. Khi thực tập vô tác thì mình dừng lại, mình thấy thế giới và bản thân mình nó mầu nhiệm ngay trong giây phút hiện tại, mình chỉ cần tận hưởng nó mà thôi. Không có gì cần phải làm hết. Không cần trở thành giáo thọ, không cần trở thành sư bà, không cần trở thành hòa thượng. Đó là một giáo lý rất mầu nhiệm.

Bây giờ mình chưa được xuống tóc, mình cũng đã mầu nhiệm rồi. Tại sao phải đợi đến ngày 28 Tết mình mới mỉm cười được? Nếu mình mỉm cười được ngay ngày hôm nay thì mình nằm yên trong bụng thầy và thầy khỏi đau bụng! Nếu mình cựa quậy quá thì thầy sẽ đau bụng! Thành ra pháp môn này là pháp môn vô đắc. Không có gì mình phải buông bỏ cả, không có cái gì mình phải chạy theo cả. Vì vậy cho nên là nam cũng đẹp, là nữ cũng đẹp, là sa di cũng đẹp, sa di ni cũng đẹp, đừng có chạy, đừng có mong cầu. An trú trong giây phút hiện tại, là tự nhiên mình có sự dừng lại, có hạnh phúc ngay từ bây giờ.

Vô tác có khi được dịch là vô nguyện. Vô nguyện tức là mình đâu có muốn gì nữa? Cho nên mình mới an trú, và khi mình an trú được thì tất cả những cái nguyện của mình nó thành tựu liền lập tức. Rất là hay.

Tại Làng Mai chúng ta có những phương pháp thực tập rất cụ thể để có thể mở ra ba cánh cửa giải thoát đó. Chúng ta không chỉ nói về những khái niệm giáo lý về tam giải thoát môn mà thôi.

Tuệ Trung nói:

Thân tùng vô tướng bản lai không, có nghĩa là bản chất của tất cả mọi sự, mọi vật là vô tướng, là không.

Huyển hóa phân sai thành nhị kiến. Nhưng nếu không quán chiếu thì chúng ta sẽ có cái thấy sai lầm gọi là cái thấy nhị kiến, Duallistic viewduallistic way of looking at things.

Ngã nhân tợ lộ diệc tợ sương, Phàm thánh như lôi diệc như điện.

Khi đọc những câu kệ này chúng ta thấy nó có âm hưởng của kinh Kim Cương. Quý vị nào thường tụng kinh Kim Cương thì sẽ thấy âm hưởng của kinh Kim Cương ở đây.

Ngã nhân tợ lộ diệc tợ sương. Ta và người cũng như móc, như sương. Móc là mù. Ý niệm về ngã và nhân thì cũng giống như sương, như mù.

Phàm thánh như lôi diệc như điện. Ý niệm về phàm và thánh nó giống như sấm, như chớp.

Mi mao tiêm hoành tị khổng thùy, Phật dữ chúng sanh đô nhất diện, Thục thị phàm hề thục thị thánh,Quảng kiếp sưu tầm một căn tánh, Phi tâm vô thị diệc vô phi, Vô kiến, phi tà giã phi chánh …

Nguyễn Lang dịch là:

Mày ngang mũi dọc đều như nhau, Phật cùng chúng sanh không sai khác, Ai là phàm chừ, ai là thánh? Muôn kiếp sưu tầm mất căn tính, Không tâm, không tính, cũng không phi, Không kiến, chẳng tà cũng chẳng chánh …

Chúng ta dùng bản dịch để giảng cho dễ:

Mày ngang mũi dọc đều như nhau. Chúng ta phân biệt giữa Phật và chúng sanh, chúng ta nói Phật là hoàn toàn khác với chúng sanh, nhưng chúng ta không biết rằng nếu không có chúng sanh thì không thể nào có Phật. Và ngoài chúng sanh thì tìm Phật không ra, ngoài Phật thì tìm chúng sanh không có. Cũng như lông mày thì đi ngang, lỗ mũi nó đi dọc. Tuy là ngang, dọc, nhưng nó cùng một thể tánh. Mày ngang mũi dọc đều như nhau.

Phật cùng chúng sanh không sai khác. Phàm thánh đều cùng một thể tính. Chất thánh được làm bằng những yếu tố phàm, và chất phàm được làm bằng chất thánh. Ví dụ như hoa được làm bằng chất phân bón, mà phân nó cũng được làm bằng chất hoa. Ngoài hoa thì không có phân, tại vì khi mục nát, hoa sẽ thành phân, và nếu biết xử lý thì phân sẽ biến lại thành hoa.

Ai là phàm chừ, ai là thánh? Muôn kiếp sưu tầm mất căn tính,

Nếu chúng ta phân biệt, nếu chúng ta bỏ một cái và đi tìm một cái khác thì chúng ta sẽ mất thì giờ một cách vô ích.

Không tâm, không tính, cũng không phi, Không kiến, chẳng tà cũng chẳng chánh.

Khi cái tâm, cái ý niệm phân biệt của chúng ta chưa khởi ra thì vô thị diệt vô phi, thì “vấn đề là”, hay “không là” (to be or not to be) nghĩa là Vô kiến, phi tà giã phi chánh. Nếu chúng ta không có thành kiến, không có kiến chấp thì làm gì có tà, có chánh? Thành ra những cái như “là”, hay “không phải là”, đúng hay sai, tà hay chính đều không được đặt ra.

Chữ tâm và chữ kiến trong câu này đều có nghĩa là ý thức phân biệt. Từ ý thức phân biệt đó mà chúng ta có cái thấy gọi là “nhị kiến”, có mê, có ngộ; có phàm có thánh; có phiền trược có giải thoát; có sinh tử, có niết bàn. Vì vậy cho nên muốn tiếp xúc được với thực tại mầu nhiệm, muốn có vững chãi, có thảnh thơi thì chúng ta phải vượt thoát cái khuynh hướng nhìn sự vật bằng con mắt “lưỡng nguyên”, hay nhị kiến.

Một bài khác rất hay của Tuệ Trung mà chúng ta có thể học thuộc lòng là bài Mê Ngộ Không Khác Nhau, có đăng trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, trang 293.

Chỉ cần chúng ta cởi bỏ cặp mắt kiếng “lưỡng nguyên” là tự nhiên cái pháp giới tính, cái thực tại mầu nhiệm nó hiển hiện ra cho chúng ta thấy. Đây là một giáo lý rất vững mạnh của Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Quý vị nghĩ lại xem, trong quá khứ có một con đường phố nào mà chúng ta cảm thấy quen thuộc, nhớ thương; có một con đường nhỏ nào hồi bé chúng ta thường hay đi, mà lâu nay chúng ta không có dịp đi trở lại. Chúng ta cầm tay mẹ, hay tay bố để đi hồi còn bé tí. Một khung trời nào, một hoàn cảnh nào còn lưu lại một kỷ niệm, một hình dáng thân thương trong trái tim của ta không? Nếu không thấy, nếu không nhớ thì không có nghĩa là chúng ta đã không có khinh nghiệm đó. Thế nào chúng ta cũng đã có kinh nghiệm đó.

Có thể hồi đó chúng ta còn nhỏ quá, hai hay ba tuổi, năm tuổi hay bảy tuổi, chúng ta đã được mẹ hay bố cầm tay dẫn đi, hoặc rong chơi với một đứa bạn ở trên con đường đó, mà lâu nay vì cuộc đời bận rộn, nhiều phiền não mà chúng ta không có thì giờ để nghĩ lại con đường đó, hay khung trời đó. Phải tìm ra cho được, phải cho phép để khung trời đó, con đường đó, cái vùng đó nó hiện ra trong tâm của chúng ta. Và có thể là chúng ta có một sự nuối tiếc, một sự ao ước được trở về với con đường đó để được đi lại trên con đường đó sau mười năm, hai mươi năm, hoặc ba bốn mươi năm xa cách.

Ví dụ như chị Chân Nguyện sắp được về Việt Nam, hay một sư chú, sư cô sắp về Việt Nam mà mình đã xa hai, ba mươi năm nay. Trước khi mình rời khỏi đất nước, mình đã từng đi trên con đường đó. Giờ đây mình ước ao có thể trở về giẫm bước chân trên con đường đó. Trong khi thiền tọa mình có quyền mở cửa để cho cái hình ảnh đó nó trở về lại trong mình. Có thể mình đã thấy con đường đó, khung trời đó trong một giấc mơ nào đó, rồi sáng ngủ dậy mình quên đi. Nhưng con người mình, mình luôn luôn đi tìm về khung trời ấm áp, khung trời hạnh phúc của ngày xưa. Tất cả chúng ta đều có những kỷ niệm đó, đều có ký ức đó. Đôi khi ta có cảm tưởng rằng ta chỉ cần trở về được với khung trời đó, với khung cảnh đó là ta có hạnh phúc. Nếu quả thật quý vị có một kỷ niệm, có một hình ảnh như vậy thì kỷ niệm đó, hình ảnh đó có thể là một phương tiện cho quý vị thực tập. Quý vị có thể đi về nơi đó, về bằng máy bay, bằng xe hơi, xe lửa rồi quý vị sẽ thực tập thiền hành trên những con đường đó. Bước những bước thật chậm rãi, thực tập dừng lại một cách đích thật trong khung cảnh đó, tại vì hình như chúng ta tin rằng phải là khung trời đó, phải là khung cảnh đó thì ta mới tìm được cái cảm giác đó.

Ví dụ Chân Nguyện đi về và tìm lại con đường mà mình đi hồi mình 12, 14 tuổi thì mình có thể để ra ba, bốn ngày đi trên con đường đó. Đi như thế nào để tìm lại những cảm giác đó và để khám phá ra rằng con đường đó nó khác những con đường ở bên Bỉ, bên Pháp của chúng ta. Tại sao nó quý hơn? Nó quý hơn là nhờ có một kỷ niệm, nó quý hơn là tại cái bản chất của nó. Trong con người của chúng ta nó có chất nhớ nhung, thương tiếc, hoài niệm, và chúng ta ao ước phục hồi lại cái quá khứ đã mất. Đó là một phần sự sống hàng ngày của chúng ta. Ao ước phục hồi lại những gì đã mất ở trong quá khứ. Trong người của chúng ta cũng còn có một phần khác là nôn nức hướng về tương lai để thực hiện một cái mà mình nghĩ là mình cần phải có thì mình mới hạnh phúc, và mình nghĩ rằng chỉ khi nào mình đặt bước trên con đường tương lai đó thì mình mới có hạnh phúc.

Nếu có vậy thì mình phải thực tập! Thực tập như thế nào để cho mình được giải thoát, nghĩa là một ngày nào đó mình thấy rằng không phải chỉ con đường đó mà bất cứ con đường nào, nẻo đường nào mình bước chân lên cũng mầu nhiệm, cũng đem lại cho mình cái hạnh phúc lớn như con đường ngày xưa.

Tôi có thể chứng thực được cho quý vị là tôi đã đạt được điều đó. Như đã kể trước đây, ngày xưa tôi bị cấm không được về nước, không phải một chính quyền mà cả hai ba chính quyền đều cấm không cho tôi về nước, cho nên sự ước ao về nước của tôi nó càng lớn, ước ao trở về để đi trên con đường đó, con đường của tuổi thơ.

Sau đó thì con đường bờ hồ bên chùa nó hiện ra trong những giấc mơ, tại vì mình đã ao ước, tại vì mình đã từng có hạnh phúc. Khi bị cấm thì cái ao ước kia nó càng lớn. Con đường đẹp nó càng đẹp hơn! Một trong những giây phút hạnh phúc nhất của đời tôi là trong giấc mơ tôi thấy mình đang đi trên nẻo đường của tuổi thơ, nẻo đường rất sáng, rất đẹp, nó hạnh phúc một cách kỳ lạ! Giống như có hào quang từ bên dưới tỏa lên, từ bên trên chiếu xuống! Mà mình biết hào quang đó là từ trong trái tim của mình đi ra.

Có những lúc nằm mơ, thấy mình đang ở Huế, và mình chỉ cần đi 15 phút là đến con đường đó. Khi tỉnh dậy nếu còn nhớ được giây phút đó thì mình có thể sử dụng nó trong thiền tọa hay thiền hành.

Khi mình có cảm tưởng có một khung trời nào đó mà mình không được đặt chân trở về, thì khung trời đó thường hiện ra trong những giấc mơ của mình. Những ao ước của mình cũng vậy.

Bây giờ thì tôi không còn như vậy nữa, không có sự ngăn cách nữa, tại cái ranh giới phân biệt giữa cái này và cái kia, cái quê hương và cái không quê hương nó đã mất đi. Tôi hoàn toàn có hạnh phúc bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Không còn cảm tưởng là có một ranh giới cần loại đi nữa. Điều này mình thấy rất rõ, đây là một điều mừng, đây là một điều chứng thực cho quý vị thấy giải thoát là một cái gì có thật, mình có thể đạt được.

Dù rằng cái ao ước kia, sự vướng mắc kia nó có kéo dài một thời gian, nhưng nếu mình thực tập quán chiếu và mình có hạnh phúc, có an lạc thì mình sẽ tháo gỡ được. Nếu nó là một con đường, hay một ngọn đồi thì mình quán chiếu nó như là một con đường hay là một ngọn đồi. Nếu nó là một cố nhân, thì mình quán chiếu nó như là một con người. Tại vì tất cả những người mà mình gặp hôm nay, chung quanh mình, có thể họ đều là những thực tại hết sức mầu nhiệm. Một cành tre, một cành đào, một đám mây, một con đường thiền hành ở Xóm Thượng, Xóm Hạ, tất cả đều rất mầu nhiệm, và sự mầu nhiệm của những cành đào, cành trúc, đám mây, và con đường đó nó không thua gì sự mầu nhiệm của con đường năm xưa trong quá khứ, trong tiềm thức, trong tâm tư, và mình không cần phải chạy đi đâu hết.

Mình tưởng cây tùng trên Xóm Thượng hay là cây sồi ở Xóm Hạ là những hiện tượng toàn bích. Không! Cái gì cũng đẹp hết. Mình tưởng những người sống với mình không được như cây sồi, hay cây tùng. Nhưng kỳ thật họ là những cây sồi, những cây tùng, và họ cũng mầu nhiệm như bất cứ một người nào, bất cứ một hiện tượng nào.

Vì vậy cho nên sống là tiếp xúc, là khám phá, là thấy cho được cái mầu nhiệm. Điều đó chỉ có thể làm hôm nay mà thôi. Không thể đợi đến ngày mai. Mỗi ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ là một cơ hội để chúng ta khám phá rằng cái hạnh phúc, cái an lạc của chúng ta và sự thỏa mãn ước ao của chúng ta có thể được thực hiện ngay buổi sáng hôm nay.

Giáo lý của đạo Bụt cho chúng ta đủ những phương tiện, những pháp môn để chúng ta thực hiện điều đó. Đi như thế nào để đi được trong tinh thần vô tướng, đi như thế nào để đi được trong tinh thần không, đi như thế nào để đi được trong tinh thần vô tác, đi như thế nào để chúng ta có thể dừng lại ngay tại đây để tiếp xúc với tất cả những cái mầu nhiệm của sự sống trong ngày hôm nay, sự sống gồm có những hiện tượng vô thường, vô ngã. Nhưng sự sống cũng chứa đựng niết bàn, chứa đựng tĩnh lặng, chứa đựng hạnh phúc. Tất cả đều tùy thuộc vào cách thấy của chúng ta mà thôi.

Tuệ Trung Thượng Sĩ có nói chỉ cần bỏ “cặp mắt kiếng nhị kiến” ra là thực tại nó lộ hình dung mầu nhiệm của nó, và ta sẽ có hạnh phúc, người kia là sư em của ta, sư chị ta, sư anh ta, cũng chính là ta đó.

Tuệ Trung Thượng Sĩ Và Thiền Công Án

Vào thế kỷ thứ thứ 12, 13 và 14, thiền công án rất phổ thông ở Việt Nam. Không những vua Trần Thái Tông đã sử dụng công án để dạy học trò, mà Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng sử dụng công án để dạy đệ tử. Trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, chúng ta có thấy ghi lại 13 công án mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đã sử dụng để dạy.

Ta hãy đọc công án thứ 10:

Cữ (tức nêu ra một đề tài để chiêm nghiệm):

Khi thiền sư Lâm Tế đến viếng một ngôi chùa thì ông từ giữ chùa hỏi: Bây giờ thầy muốn lạy Phật trước hay lạy tổ trước? Thường thì khi tới chùa mình phải vào lạy Phật, rồi mới lạy tổ. Lúc đó tổ Lâm Tế nói: Khỏi lạy, tổ cũng không lạy mà Bụt cũng không lạy! Ông từ không biết đây là một đại thiền sư, cho nên ông nhìn và nói: Tổ và Bụt có mắc oan gia gì với thầy đâu mà thầy không lạy? Nghĩa là có mối oán thù gì giữa Bụt, tổ và thầy đâu mà thầy không lạy ai cả? Lúc đó tổ Lâm Tế phất tay áo và đi ra, vì nói chuyện với ông này coi bộ không xong! Tổ thường nói chuyện với các đệ tử giỏi và họ hiểu được ý thầy, bây giờ nói ra một câu có vẻ thiền thì ông này bị hụt hẫng liền, nên thầy bỏ đi.

Niêm (tức là bình phẩm vắn tắt):

Được cởi đầu cọp mà chẳng biết vuốt râu hùm, Cọp đây có lẽ là tổ Lâm Tế. Lâu lâu mới được dịp đối diện với thiền sư mà không biết lợi dụng!

Tụng (để cứu vãn trong trường hợp người kia bước hụt):

Nhất tùng phất tụ đẳng nhàn hành, Tháp chủ man can hạt bất sinh, Phật tổ đáo đầu câu bất lễ, Thu quan thiểu giảm ngọt sùng vinh.

Bài dịch của Trúc Thiêm là:

Phất áo một phen nhẹ gót rồi, Ông từ trợn mắt ráo mồ hôi, Rút cùng Phật tổ đều không lạy, Khe sáng màu Thu nhục ửng ngời. Khe có nghĩa là dòng suối. Dưới đây là công án thứ hai:

Cữ:

Kinh Niết Bàn nói chư hạnh vô thường, thị sinh diệt pháp. ­Hạnh tức là những hiện tượng, tiếng Anh dịch là Formation, All formations are impermanent. Tất cả mọi hiện tượng sinh lý, tâm lý, vật lý đều là vô thường. Chúng đều là những pháp có sinh và có diệt. Thượng Sĩ hỏi: Thị sinh diệt? Cái gì sinh diệt? Theo nguyên tắc, mình là thiền sinh thì mình phải biết sử dụng những chữ mà thầy mình nói ra, tại vì đó là cái chìa khóa, đó là cái búa, là dụng cụ để mình có thể mở ra, nạy ra, phá ra công án này. Cái gì sinh diệt, ai sinh diệt? Tức là nói rằng dưới hình tướng có sinh có diệt, có một cái gì làm chủ thể hay không? Cái gì sanh, cái gì diệt? Hay là chỉ có cái tướng sinh diệt thôi chứ không có cái chủ thể của sinh diệt. Công án thì mình không có quyền cắt nghĩa.

Tụng:

Chư hạnh vô thường, Thị sanh diệt pháp, Tam giới vũ mông mông, Thập phương phong táp táp,Phàm thánh bất đồng cư, Long Xà phi hỗn tạp. Chư hạnh vô thường nhất thiết không, Sinh diệt chi tâm thì vấn đáp, Nhược phùng đống nùng lão Cồ Đàm, Dị miễn lan hung đạp, Đốt bất kiến dương hòa sắc, Năng khan đào hỷ khai.

Chư pháp vô thường thị sanh diệt pháp, Tam giới vũ mông mông, Thập phương phong táp táp. Trong ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới thì mưa sa dồn dập, và trong mười phương thì gió thổi mạnh, mưa sa gió táp. Ba cõi mưa sa, mười phương gió táp.

Phàm thánh bất đồng cư, nghĩa là người phàm và các bậc thánh không ở chung với nhau.

Long Xà phi hỗn tạp – Rồng và rắn không lộn xộn với nhau, hai bên khác nhau. Người phàm và người thánh cũng vậy, không lẫn lộn với nhau. Phàm thánh chẳng chung nơi, Rắn rồng không hỗn tạp.

Chư hạnh vô thường nhất thiết không. Các hiện tượng đều là vô thường, tất cả đều không có tự tánh riêng biệt.

Sinh diệt chi tâm thì vấn đáp, nghĩa là cái tâm, cái ý niệm về sinh diệt kia, ai là người hỏi và ai là người trả lời? Muôn vật vô thường tất cả không – Sinh diệt tâm kia ai hỏi đáp?

Nhược phùng đống nùng lão Cồ Đàm, Dị miễn lan hung đạp. Lão Cồ Đàm tức là The old man Gautama, tức là Bụt. Nếu bây giờ mà gặp ông già Gautama đang đứng lạnh cóng bên đường thì đâu có khỏi bị ngài đạp một cái ngang hông?

Đốt bất kiến dương hòa sắc, Đốt có nghĩa là “Trời đất ơi!” Năng khan đào hỷ khai: Không thấy màu Xuân ấm áp và hòa hoãn, vậy mà có thể thấy được hoa đào và hoa lý đang nở. Dương hòa tức là khí hậu ấm áp của mùa Xuân, tam dương khai thái. Khí hậu ấm áp của mùa Xuân gọi là “dương hòa sắc”. Khí hậu ấm áp mùa Xuân không có đó, vậy mà hoa đào, hoa lý vẫn thấy nở như thường. Năng khan, khan đây là thấy, là nhìn, nó vốn là chữ khán, nhưng đọc là khan. Không có màu Xuân ấm áp, mà xem đào, lý đơm bông.

Đó là bài tụng của Tuệ Trung Thượng Sĩ để giúp cho chúng ta hiểu được hai câu Chư hạnh vô thường, Thị sinh diệt pháp.

Chúng ta nên nhớ rằng bài kệ này có bốn câu:

Chư hạnh vô thường, Thị sinh diệt pháp, Sinh diệt diệc dĩ, Tịch diệt vi lạc.

Bài này chúng ta đã học rất kỹ trong khóa Phật Pháp Căn Bản. Hai câu sau là đối tượng của công án thứ nhì. Hai câu đầu Chư hạnh vô thường, Thị sinh diệt pháp – Tất cả mọi hiện tượng đều là vô thường, chúng đều là những pháp có sinh và có diệt. Đó lời tuyên bố đầu về các pháp, và là lời tuyên bố đứng về phương diện tích môn.

Hai câu sau Sinh diệt diệc dĩ, Tịch diệt vi lạc là lời tuyên bố kế tiếp, nói về phương diện bản môn.

Đứng về phương diện tích môn, Historical dimension, mình thấy có các pháp, pháp này có ngoài pháp kia. Ví dụ như cái hoa nó có ngoài cái bình thủy này. Hoa là một pháp riêng, bình thủy là một pháp riêng. Tất cả các pháp đó đều là những pháp có sinh có diệt.

Thiền sư hỏi: Cái gì sinh, cái gì diệt? Nếu mình là thiền sinh giỏi thì mình có thể nương vào bốn chữ này để có thể chọc thủng được bức màn kia. Không phải là vấn đề giải nghĩa mà là vấn đề đạt được cái thực tại. Còn nếu mình nghĩ cái chân lý nó nằm ở trong bốn chữ này và mình đi tìm chân lý trong mấy chữ này thì đó không phải là thiền. Thiền không có nghĩa là đi tìm hiểu nghĩa của những chữ. Thiền có nghĩa là nhờ những chữ đó để tìm hiểu được cái thực tại. Mình đừng làm nô lệ cho những chữ này.

Ví dụ sư chú đang đi giữa đường, gặp thầy và thầy hỏi: Con đi đâu đó? Thì con đi đâu đó không phải là một câu mà mình phải tìm hiểu chữ con nghĩa là gì; đi nghĩa là gì; đâu là gì; đó là gì? Vấn đề không phải là tìm hiểu câu đó. Tại vì bốn chữ đó nó có tác dụng của nó, đó là làm phát sinh ra cái niệm ở nơi sư chú. Sư chú đi đâu đó sư chú có biết không? Nếu niệm phát sinh ra thì tự nhiên sư chú biết rằng mình có đi đâu đâu? Mình đang đi và biết mình đang đi là tự nhiên bước chân của sư chú nó vững chãi, nó thảnh thơi lại. Đi mà không cần tới.

Câu hỏi của tôi nó có ý nghĩa như vậy, nó có tác dụng như vậy. Vấn đề không phải là phân tích từng chữ của câu nói đó, mà phải biết dùng những chữ đó để đạt tới sự thật quan trọng về sự sống của mình. Nghe hỏi, sư chú có thể mỉm cười nói: Dạ con có đi đâu đâu bạch thầy! Rõ ràng mình đang đi nhưng mình có quyền nói “Con đâu có đi đâu đâu thầy”. Như vậy là cả thầy lẫn trò đều xứng đáng hết. Còn nếu trả lời khác đi, có thể là nguy. Mất mình và mất thầy luôn.

Vì vậy nếu chúng ta nghe tám chữ trong câu kệ trên đây thì chúng ta phải nương vào tám chữ đó để thấy được cái gì của thực tại. Chứ không phải đi tìm ý nghĩa ẩn dấu dưới tám chữ đó.

Nếu mình không thấy được thì thầy sẽ giúp mình thêm vài chữ nữa. Đôi khi có tám chữ là mình đã muốn chết rồi, thầy thêm vào bốn chữ nữa là mình càng khổ thêm. Đó là vấn đề kẹt vào chữ nghĩa.

Chư hạnh vô thường, Thị sanh diệt pháp, Tam giới vũ mông mông, Thập phương phong táp táp. Bây giờ mình nên nói về cảm tưởng của mình chứ đừng dùng ý niệm: Cơn mưa gió này xảy ra cho mình, nếu mình đi vào trong thế giới của những ý niệm như là vô thường, vô ngã, sinh, diệt, bất sinh bất diệt, tự nhiên đang an lành thì mưa gió nổi lên trong tâm của mình. Mưa gió của những ý niệm.

Phàm thánh bất đồng cư, Long Xà phi hỗn tạp. Phàm thánh không ở chung với nhau, Long xà không có lộn xộn. Ở đây mình có thể để tâm tới bản môn và tích môn. Đứng về phương diện tích môn thì có sinh, có diệt; có không, có có; có tới, có lui; có pháp này, có pháp kia. Nhưng khi người đạt đạo nghe bốn chữ này thì không bị cột vào ý niệm sinh, diệt, thường hay vô thường. Đối với người chưa tiếp xúc được với bản môn thì có thể bị kẹt vào những ý niệm. Kẹt vào ý niệm thường là không tốt, nhưng kẹt vào ý niệm vô thường cũng chưa chắc đã tốt. Kẹt vào ý niệm sinh,đã đành là không tốt, nhưng kẹt vào ý niệm vô sinh cũng chưa chắc đã là tốt. Vì vậy cho nên mình đang yên lành tự nhiên leo lên cây. Leo lên cây rồi thì sợ té!

Nương vào bốn câu “Tam giới vũ mông mông – Thập phương phong táp táp – Phàm thánh bất đồng cư – Long Xà phi hỗn tạp” theo cách đó thì mình có thể thấy được tâm của Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Đến các câu: Chư hạnh vô thường nhất thiết không, Sinh diệt chi tâm thì vấn đáp: Anh nói rằng tất cả các pháp đều vô thường, tất cả đều không có thực thể, vậy thì ý niệm của anh về sinh diệt, dưới ý niệm đó có ngã không? Ai là người hỏi, ai là người đáp. Đó là cách giúp chúng ta vượt qua được ý niệm.

Ví gặp ông già Cồ Đàm cóng lạnh kia, Tránh đâu ngang hông khỏi một đạp. Hai câu này ghê lắm. Có người nói rằng nếu tuyên bố mấy chữ này và để cho người ta bị kẹt vào thì chính Bụt cũng có lỗi! Nói năng mà như vậy thì chính Bụt cũng mang tiếng!

Nhưng đúng ra mình phải cắt nghĩa rằng: Nếu bị kẹt vào tám chữ đó thì mình sẽ bị ông già Cồ Đàm đạp cho một đạp nên thân. Hy vọng nhờ cái đạp đó mà mình thoát khỏi tám chữ kia. Cũng như là lời tuyên bố “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” rất là nguy hiểm. Phần lớn chúng ta, đến chín mươi mấy phần trăm, đều bị kẹt vào những ý niệm “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” và không sử dụng được tám chữ đó để đạt tới cái thấy về bản môn.

Đốt bất kiến dương hòa sắc, Năng khan đào hỷ khai – Ối trời ơi! Khí hậu ấm áp mùa Xuân chưa tới mà mình vẫn thấy được hoa đào, hoa lý đang nở. Cái đó là mở cửa bản môn.

Quý vị có nhớ câu chuyện tôi kể về Saint Fran(ois d’Assises không? Một hôm ông cha đó sau khi được phong thánh, ông đi thiền hành một mình trong mùa Đông, cây cối đều trụi lá. Khi đi tới một cây hạnh nhân ông nhìn cây hạnh nhân và nói: “Cây hạnh nhân ơi, cây hãy nói cho tôi nghe về Thượng Đế đi”. Khi ông nói xong thì cây hạnh nhân trổ hoa đầy cành! Đó là một câu chuyện rất thiền, tại vì trong mùa Đông, nếu nhìn kỹ vào trong thân của cây hạnh nhân thì mình thấy được cái quá khứ của nó, thấy được tương lai của nó. Không cần đợi tới mùa Xuân, mình vẫn thấy được hoa của nó.

Cũng như mình ngồi đó, mình chưa có học trò, chưa có con, có cháu nhưng mình ngồi thở có chánh niệm, mình thấy rõ ràng con và cháu mình đang được mình nuôi dưỡng. Mình thở là thở cho con, cho cháu, cho ông bà tổ tiên của mình. Như vậy thì tuy cây chanh chưa có trái nhưng nếu sống trong bản môn thì mình đã thấy trái chanh rồi. Tuy rằng khí Xuân ấm áp chưa có đó nhưng mắt mình đã thấy hoa đào, hoa lý đang nở.

Chúng ta hãy đọc lại cả bài dịch:

Muôn vật đều vô thường, Ấy là pháp sinh diệt, Ba cõi mưa sa mười phương gió táp, Phàm thánh chẳng chung nơi, Rắn rồng không hỗn tạp, Muôn vật vô thường, tất cả không, Sinh diệt tâm kia ai hỏi đáp, Ví gặp ông già Cồ Đàm bị cóng lạnh, Tránh đâu ngang hông khỏi một đạp, Ối trời ôi! không thấy màu Xuân ấm áp, Mà đào lý vẫn đơm bông.

Công án thứ hai trong bài kệ này là về hạnh phúc của niết bàn, tức là hai câu kế của bài kệ Sinh diệt diệc dĩ, tịch diệt vi lạc. Công án này tôi để dành cho quý vị tự khảo cứu lấy. Tôi chỉ cho nếm chút xíu như vậy thôi!

Trong cuốn Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục chúng ta có nguyên văn chữ Hán bên tay trái, và bản dịch bằng tiếng Việt bên tay phải. Nếu quý vị muốn có chữ Nho thì tôi có một bản viết bằng chữ Nho. Đây chỉ là phiên âm. Chúng ta chưa có tiếng Anh, còn đợi sư chị Chân Đức. Sư chị đã dịch được một số bài của Trần Thái Tông ra tiếng Anh, như bài Bốn Núi, một đoạn về Phổ Thuyết Sắc Thân, một đoạn về Khuyến Pháp Bồ Đề Tâm Văn, một vài bài kệ ở trong Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, một bài Dâng Hương, một bài Dâng Hoa, và một bài thơ. Có lẽ sư chị đã dịch những bài in trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận cuốn 1. Tuy chưa nhiều lắm, nhưng ít ra thì chúng ta cũng có được một số để cho người Tây phương nếm được giáo lý của Trần Thái Tông.

Chúng ta có rất nhiều bản dịch Anh văn của những tác phẩm của các thiền sư Trung Hoa, nhưng chúng ta chưa có những tư lương đối với các thiền sư Việt Nam, thành ra nếu có thể được thì quý vị ráng dịch những tác phẩm này ra tiếng Anh để cho nhiều người được thừa hưởng. Mình có thể thu xếp để có một thầy giỏi chữ Nho ngồi với một sư cô giỏi tiếng Anh và tiếng Việt. Một bên đọc ra thành tiếng Việt, bên kia dịch ra tiếng Anh và mình có thể thu vào một cái tape, thì việc dịch thuật sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Chúng ta có giáo lý của các vị như Thường Chiếu, Tuệ Trung, Trần Thái Tông v.v…

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

TỔ KHAI SÁNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

Vua Trần Nhân Tông là người chính thức sáng lập thiền phái Trúc Lâm. Tại vì sau khi đã truyền ngôi cho con là Anh Tông thì vua đi xuất gia trên núi Yên Tử. Vua Anh Tông cũng đã thọ Bồ tát giới, và vua Anh Tông thường mời cựu hoàng Nhân Tông về cung để thuyết giảng cho các quan trong triều nghe.

Sử sách có ghi rằng vua Trần Nhân Tông là sơ tổ (tức là tổ đầu tiên) của thiền phái Trúc Lâm. Khi xuất gia, vua Nhân Tông có đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, nhưng khi vua Nhân Tông xuất gia thì cố nhiên vua Thánh Tông làm sao truyền giới được (vì Thánh Tông là cư sĩ), cho nên vua Nhân Tông thọ giới với thiền sư Huệ Tuệ, vị đệ tử của thiền sư Tiêu Diêu, tức là người học trò của thiền sư Đại Đăng. Sau đó vua Nhân Tông Trúc Lâm Đại Sĩ truyền pháp cho đệ tử là Pháp Loa. Về sau Pháp Loa truyền đăng cho Huyền Quang. Vì vậy cho nên Trúc Lâm, Pháp Loa, Huyền Quang là ba vị tổ sư đầu của thiền phái Trúc Lâm, gọi là Trúc Lâm Tam Tổ.

Trong tay tôi đây là cuốn sách tựa là Tam Tổ Thực Lục, tức là những lời dạy của Ba vị Tổ Trúc Lâm đã được ghi chép thành sách. Đây là những sự thật đã xảy ra trong sự tu học của ba vị tổ của phái Trúc Lâm.

THIỀN SƯ TRÚC LÂM

Chúng ta bắt đầu học về thiền sư Trúc Lâm tức là vị tổ sư của phái Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền được thiết lập tại Đại Việt.

Khi mới xuất gia, Trần Nhân Tông có pháp hiệu là Hương Vân, tức là đám mây hương. Sau đó thì đổi hiệu là Trúc Lâm. Chúng ta biết rằng trước khi xuất gia Hương Vân đã là một ông vua sống trong quyền quý, cao sang, nhung lụa, nhưng đã bỏ đời sống đó để trở nên một người xuất gia.

Sau khi xuất gia rồi thì vua sống rất đơn giản, vua sống một cuộc đời gần như khổ hạnh, và vua tự gọi mình là Đầu Đà, tức là người tu khổ hạnh, tiếng Phạn là Dh(ta, tiếng Hán Việt là Đẩu Tẩu. Dh(ta có nghĩa là rũ bụi. Rũ hết bụi bặm của cuộc đời, trong đó có bụi danh, bụi lợi, bụi tài, bụi sắc.

Vua quả thật đã rũ hết bụi bặm. Từ khi xuất gia, vua không đi xe nữa mà luôn luôn đi bộ. Cố nhiên là vua không chịu đi cáng. Ngày xưa các người quyền quí thường đi cáng, có bốn người khiêng. Võng thì có hai người khiêng.

Khi xuất gia, pháp hiệu của vua là Hương Vân Đầu Đà. Sau đó thì đổi lại là Trúc Lâm Đầu Đà. Trúc Lâm có nghĩa là rừng tre. Sau này danh từ trúc lâm được dùng cho một thiền phái, thiền phái Trúc Lâm.

Thủa Thiếu Thời của Trần Nhân Tông

Vua là cháu nội của Trần Thái Tông. Hồi nhỏ cũng có lần vua trèo lên núi Yên Tử, định xin đi xuất gia. Có hạt giống của ông nội, nhưng vì vua cha Trần Thánh Tông không cho nên không được phép xuất gia. Vua ăn chay từ hồi còn nhỏ.

Vua Trần Nhân Tông tên là Khẩm, con trưởng của vua Thánh Tông. Mẹ của vua là Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, tức là người em gái của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Đây là lời phê bình về cuộc đời của vua do một sử thần Nho giáo tên là Ngô Sĩ Liên: Vua húy là Khẩm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu, sinh năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong thứ Tám, tháng 11, ngày 11, được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo, thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng. Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Đồng Tử …

Đây là một sự bóp méo, tại vì trong Tam Tổ Thật Lục thì không dùng danh từ Kim Tiên Đồng Tử mà là Kim Phật, tức là đức Bụt bằng vàng. Ông quan chép sử này là nhà Nho, ông không ưa chữ Bụt Vàng, cho nên ông sữa lại Kim Thiên Đồng Tử cho nó có vẻ nhà giàu. Chắc chắn là sách Tam Tổ Thật Lục của nhà chùa giữ thì chi tiết đúng hơn.

… Ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn. Ở ngôi 14 năm. Nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử. Hòa nhả, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thật là một vua hiền của nhà Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân.”

Đó là lời phê bình của một nhà Nho, rất hẹp hòi. Vua cái gì cũng giỏi hết, chỉ có việc theo đạo Phật là không giỏi thôi!

Sau Thời Trị Quốc

Chúng ta biết người kế vị của vua Nhân Tông là vua Anh Tông. Sau khi làm vua 14 năm, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông để có thì giờ tu học. Vua chưa xuất gia liền, vì muốn có một thời gian đứng sau lưng con, để vua con tập sự cho khá giỏi, thì mình mới đi tu.

Sử có chép một hôm từ cung Thiên Trường tới, Thượng Hoàng Nhân Tông không thấy vua Anh Tông ở đâu cả. Đi tìm cung này sang cung khác cũng không thấy nhà vua trẻ đâu hết. Hỏi các cung nữ, các cung nữ nói rằng Hoàng Thượng đang ngủ ở trong Tẩm Điện, vì hồi trưa uống rượu nhiều quá! Vua uống loại rượu rất thơm, rất ngon gọi là rượu Xương Bồ.

Thượng Hoàng không bằng lòng, ngài trở về chỗ tu học của mình và ra lệnh cho các quan trong triều đến đó để bàn bạc và hội nghị với ngài.

Lúc vua Anh Tông thức dậy, hỏi thăm và biết rằng Thượng Hoàng có tới thăm, tìm mình không ra, đã không bằng lòng, bỏ về cung Thiên Trường, và triệu tập các quan vào đó để hội nghị, cho nên vua rất sợ! Mình làm vua, mình say rượu nằm ngủ cho đến đỗi Thượng Hoàng tới thăm mà mình không có mặt để tiếp đón. Đó là một cái lỗi rất lớn!

Vua Anh Tông không biết làm sao, các quan thì đi hết rồi! Đi quanh đi quẩn, đi qua chùa Thiên Quốc thì gặp một anh chàng thư sinh đang ngồi đọc sách ở trước sân chùa. Anh chàng đó tên là Đoàn Nhử Hài. Nhà vua mới nói rằng: Này khanh, khanh ngồi xuống viết cho trẫm một cái thơ sám hối, một tờ biểu tạ tội với Thượng Hoàng.

Rồi hai vua tôi ngồi đó, vua nói ý, còn anh chàng sinh viên Đoàn Nhử Hài viết xuống một tờ biểu để tạ tội. Xong, hai người lấy thuyền chèo về phủ Thiên Trường. Hai người vào sân phủ, vua quỳ trước sân và đội tờ biểu để dâng lên, anh chàng sinh viên quỳ phía sau lưng. Lúc đó trời mưa. Ở trong cung nhìn ra mọi người đều thấy.

Để vua quỳ như vậy một lúc thì Thượng Hoàng mới ra lệnh cho vào. Đọc xong tờ biểu tạ tội thì Thượng Hoàng mới quở rằng: Ta đang còn sống mà con còn làm như vậy huống hồ sau này ta chết thì con sẽ làm như thế nào nữa! Ngài chỉ la một câu rồi sau đó thì tha tội cho vua.

Sử ghi lại rằng từ giây phút đó về sau, vua Anh Tông không uống một giọt rượu nào nữa. Không những rượu Xương Bồ mà bất cứ rượu nào cũng không uống một giọt! Ngài đã học được một bài học rất đích đáng.

Trong thời gian tập sự xuất gia năm năm đó, Thượng Hoàng đợi cho ông vua con lớn lên, vững chãi. Đồng thời cũng để giúp vua có nhiều thì giờ và điều kiện để học tập kinh điển, để tham vấn với các vị thiện đức và để tu tập ngay ở trong trụ sở của vua.

Trong Thời Xuất Gia

Năm 1299 thì vua Trần Nhân Tông xuất gia. Con số này rất dễ nhớ vì chỉ còn một năm nữa là tới 1300. Vua xuất gia tại chùa Hoa Yên, trên núi Yên Tử. Hồi đó chùa Hoa Yên có tên là chùa Vân Yên. Hoa Yên là tên mới của vua Lê đặt. Trần Nhân Tông xuất gia dưới sự chứng minh và truyền giới của thiền sư Huệ Tuệ. Thiền sư Huệ Tuệ là thế hệ thứ Năm của thiền phái Yên Tử, cùng một thế hệ với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nhưng Huệ Tuệ là người xuất gia, còn Tuệ Trung là một thiền sư cư sĩ.

Sử chép lại ngày vua xuất gia, tại kinh đô có một ông thầy tự đốt một ngón tay để cúng dường. Nếu đọc cuốn Am Mây Ngủ thì quý vị sẽ biết được tên của ngôi chùa đó và tên của vị trụ trì ngôi chùa đó. Khắp thủ đô người ta nghe tin có một vị thiền tăng đang đốt một ngón tay để cúng dường nhân dịp nhà vua xuất gia, cho nên mọi người tụ tới rất đông để coi. Lúc đến họ thấy vị xuất gia đó ngồi trong tư thế kiết già, đưa một ngón tay lên trên ngọn nến và để cho ngọn nến đó từ từ đốt cháy ngón tay của mình, mà nét mặt thầy vẫn thanh thản, không lộ vẻ đau đớn.

Chuyện một ông vua đi xuất gia là chuyện rất hiếm có. Ở Trung Quốc chưa có một ông vua nào đi xuất gia cả. Đời Lý thì vị vua đầu tiên của nhà Lý là Lý Thái Tổ xuất thân từ nhà chùa. Lý Công Uẩn là một cậu bé mồ côi, được thầy Lý Khánh Vân nuôi ở trong chùa, nhưng chưa thọ giới sa di. Lý Công Uẩn học rất giỏi, cho nên thầy nuôi chú bé đó. Năm mười mấy tuổi thì Lý Công Uẩn được thầy Lý Khánh Vân gởi về cho Lý Vạn Hạnh. Lý Khánh Vân và Lý Vạn Hạnh là hai anh em ruột, cùng đi tu, nhưng tu ở hai chùa khác nhau. Thầy Vạn Hạnh rất cưng Lý Công Uẩn. Cưng cho đến độ người ta đồn rằng Uẩn chính là con ruột của thầy! Thầy Vạn Hạnh đích thân dạy cho Uẩn. Sau này Uẩn được vào làm quan ở trong cung, và cuối cùng thì được lên làm vua đầu tiên của nhà Lý.

Thành ra ông vua đầu tiên của nhà Lý là xuất thân từ thiền môn, đi quét lá đa! Vì vậy câu nói “Con vua thì lại làm vua, con của nhà chùa thì quét lá đa” cũng không đúng mấy! Tại vì sự thật đã chứng tỏ rằng con của nhà chùa cũng đã làm vua, mà con của vua cũng đi xuất gia, và có thể quét lá đa! Vì vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã cầm chổi quét sân chùa. Thành ra con vua có thể không làm vua mà có thể quét lá đa, còn con nhà chùa Lý Công Uẩn có thể không quét nhà chùa mà lại làm vua.

Phật Giáo Và Hạnh Phúc Của Dân Việt Trong Đời Lý, Trần

Nhà Lý và nhà Trần thấm nhuần giáo pháp của đạo Bụt cho nên đã cống hiến cho đất nước ta ba bốn trăm năm hòa bình và hạnh phúc. Đó là những giai đoạn hạnh phúc nhất của dân tộc và đất nước Việt Nam.

Nhà Lý có 8 vị vua, gọi là Lý Bát Đế. Vua chót là Lý Chiêu Hoàng, không được thờ chung với những vua khác, tại vì Lý Chiêu Hoàng đã để ngôi vua của nhà Lý lọt vào tay của nhà Trần. Ở miền Bắc Việt Nam có đền thờ Tám Vua, mỗi năm có hội Lý Bát Đế. Vua nào cũng là Phật tử, vua nào cũng có tu học.

Đến nhà Trần thì năm ông vua đầu, vua nào cũng tu học rất tinh chuyên, vua nào cũng ủng hộ Phật pháp. Có những nhà chính trị nói rằng năm ông vua nhà Trần có thể đã lợi dụng đạo Bụt để làm chính trị. Nhưng nếu đứng về phương diện của người Phật tử thì chúng ta có thể nói rằng những ông vua đó nhờ tu học, nhờ biết sử dụng sự tu học và giáo pháp của Bụt cho nên việc chính trị của họ rất thành công. Thành ra tùy theo cách nhìn của chúng ta.

Vua Thái Tông là một thiền sư, vua Thánh Tông đã để lại những tác phẩm rất sâu sắc về Phật học. Và chính Tuệ Trung Thượng Sĩ đã ca ngợi cái đạo học của vua Trần Thánh Tông trong một bài kệ còn ghi trong Thượng Sĩ Ngữ Lục. Vua Nhân Tông đã đi xuất gia. Vua Anh Tông đã thọ Bồ tát giới và vua Minh Tông cũng tu học và cũng để lại cho chúng ta những bài kệ rất sâu sắc. Như vậy đời Trần ít nhất là có năm ông vua đầu là Phật tử thuần thành, chí thiết tu học, rất là tinh chuyên.

Trong khi ông vua đầu của nhà Lý là Lý Công Uẩn, xuất thân từ giới quét lá đa, thì vị thiền sư trên núi Yên Tử, tổ sư của phái Trúc Lâm, lại xuất thân từ một gia đình vua chúa, đã từng làm vua và đã đánh bại sự xâm lấn của quân Mông Cổ. Vua Nhân Tông và vua cha là vua Trần Thánh Tông đã hợp sức cùng với tướng Trần Hưng Đạo, với Tuệ Trung Thượng Sĩ và với những người khác, để đánh bại được quân Mông Cổ, một quân đội đi tới đâu thì chiến thắng tới đó. Họ chiếm luôn cả nước Tàu, đi thẳng qua Trung Đông. Vậy mà cuộc xâm lấn Đại Việt đã thất bại, là vì vua tôi đất Việt đã cùng một lòng, sức mạnh tinh thần rất vững, có sự đoàn kết của toàn dân.

Kỳ trước chúng ta đã nói tới sự đoàn kết giữa hai gia đình Trần Liễu và Trần Cảnh. Họ đã như là thù nghịch, nhưng nhờ hai anh em biết thực tập thiền ôm, cho nên hai gia đình tới với nhau, cấu kết thành ra một lực lượng văn hóa, đạo đức và chính trị rất vững. Đó là nền tảng cho mấy trăm năm hòa bình và hạnh phúc của nhà Trần.

Đứng về phương diện thiền phái Yên Tử thì vua thuộc thế hệ thứ sáu. Nhưng vua là sơ tổ, là tổ đầu của phái Trúc Lâm.

Hồi đó Công chúa Huyền Trân, con gái của vua, cũng có tới chùa để xem vị trụ trì đốt ngón tay để cúng dường cho việc nhà vua xuất gia. Hình như vua Anh Tông cũng có đến dự. Vua nói: Tộinghiệp thầy quá, đau thầy quá. Thì thiền sư nói: Có gì đâu tâu bệ hạ, thần tăng đốt xong rồi, đi ngủ thì sáng mai sẽ lành, không sao cả. Tại vì cơ hội một vị hoàng đế mà đi xuất gia là một cơ hội rất hiếm có trên cuộc đời này. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem lại hòa bình và thịnh trị cho dân, một ông vua như vậy khi đi xuất gia thì thế nào cũng gây nên một tiếng vang rất lớn ở trong quốc dân, làm gương cho biết bao nhiêu người! Bỏ danh, bỏ lợi, bỏ quyền, bỏ sắc, bỏ tất cả để làm ông thầy tu áo vải. Nhất là khi đi tu, vua đã từ chối tất cả mọi điều kiện vật chất. Vua không đi lọng, không đi cáng, không đi võng, không đi xe, không đi ngựa. Vua đi chân đất và vua mặc áo vải thô.

Sau khi xuất gia thì vua trú ở trên núi Yên Tử, vì vậy cho nên tất cả dân chúng trong nước, mỗi ngày, mỗi đêm đều hướng về núi Yên Tử. Mình có một ông vua đang tu ở trên đó, và mình thấy trái tim của mình rất ấm.

Học Xưa, Ngẫm Nay

Mấy tuần nay tai nạn thiên nhiên xảy ra liên tiếp ở Mỹ cũng như ở Âu Châu và Nhật Bản. Đây là dịp để chúng ta thực tập quán chiếu về tính vô thường. Những người nhà giàu có nhà ở khu Malibu là khu rất giàu sang, ở sát bờ biển thuộc tiểu bang Cali., nhưng bây giờ họ thấy khu đó không sang nữa! Có nhiều người muốn bỏ đi nơi khác, tại vì bùn chảy ra từng tấn, từng chục tấn, làm cho khu đó trở nên rất dơ bẩn. Con số người tử nạn trong trận động đất đó lên tới 5 ngàn người! Theo bản báo tin đầu tiên thì có 1000 người chết và 1000 người mất tích. Nhưng bây giờ số người chết và mất tích đã lên tới 5000! Chuyện đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Vì vậy ta phải quán chiếu về vô thường, phải sống cho sâu sắc ngày hôm nay. Phải biết thương nhau, phải biết bỏ qua những chuyện vụn vặt không đáng để cho chúng ta buồn giận.

Ngày xưa mỗi khi có thiên tai, bão lụt hay hạn hán thì các vị nguyên thủ quốc gia ở Á Châu, tự nhận là lỗi của họ. Đó là nền văn hóa Á Đông. Ở Trung Hoa, ở Việt Nam, ở Nhật Bản, ở Triều Tiên đều như vậy cả. Mỗi khi có thiên tai lớn xảy ra cho dân chúng, mất mùa đói kém, hay là hạn hán, lụt lội, thì ông vua phải nhận lỗi của mình, và phải viết một tờ nhận lỗi: Tại vì trẫm không có đức, trẫm ăn ở không nhân từ, trẫm không hiểu lòng dân, trẫm không làm tròn phận sự của một vị thiên tử cho nên tai nạn đã giáng xuống!

Chúng ta có thể nói đó là một tờ kiểm thảo của ông vua, và quần chúng trong nước đòi hỏi một bản kiểm thảo như vậy. Đó là văn hóa Á Đông ngày xưa. Tờ đó có thể là một trang, hai trang, trong đó ông vua nhận lỗi của mình. Tất cả những bất hạnh xảy ra cho đất nước, cho dân tộc, là do lỗi của người chấp chánh. Sau khi đã ban hành văn tự kiểm điểm đó thì ông vua bắt đầu ăn chay, nằm đất.

Đang nằm trên giường ngự êm ấm, nệm chăn đầy đủ, ông phải xuống nằm dưới đất với một chiếc chiếu, trong ba mươi tuần lễ, và ông phải ăn chay trong ba mươi tuần lễ đó. Đồng thời ông phải mời những nhân sĩ ở trong nước tới, hỏi phương kế để có thể tạo dựng lại đức độ của vua, tạo lập lại sự sáng suốt của vua, thì tai nạn kia mới đi qua được.

Đó là một điều rất hay mà giờ đây chủ tịch nhà nước, hay tổng thống, không những ở Tây phương không làm, mà ở Á Đông cũng không làm nữa.

Chúng ta thấy sự thật là nếu tai nạn xảy ra như vậy là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Chuyện tiêu thụ của chúng ta, chuyện làm ô nhiễm đất nước, làm mất thăng bằng của trời đất trong xã hội này, đã tạo ra những tai họa đó, như là lụt lội, như là gió bão, như là nạn cháy rừng, động đất.

Có thể những vị nguyên thủ quốc gia đã không nghe lời những vị nhân sĩ trong nước, không nghe lời những nhà khoa học, những nhà bảo vệ sinh môi, những nhà lãnh đạo tinh thần của quốc gia đó. Họ không nghe lời khuyến cáo, làm cho sự phát triển kinh tế trong nước đi theo một chiều hướng làm đảo lộn trật tự của thiên nhiên, cho nên những thiên tai đó đã xảy đến. Ngày xưa những vua chúa đã sáng suốt hơn. Họ đã biết lắng nghe những lời nói thốt ra từ những người đã thấy, đã hiểu để thay đổi chính sách, cũng như thay đổi hoàn cảnh.

Nói như vậy để quý vị biết rằng trong nền văn minh cổ của chúng ta có những điều rất hay. Một ông vua ngồi trên hết, có quyền sinh sát, nhưng đến lúc đất nước và dân tộc rơi vào những thảm họa như vậy, thì họ biết sám hối, biết ăn chay nằm đất, biết học hỏi từ những bô lão, từ những vị lãnh đạo tinh thần, những nhà trí thức ở trong nước.

Thành ra nếu quý vị có thể viết được một bức thư, người viết tiếng Anh, người viết tiếng Đức, người viết tiếng Tây Ban Nha để đăng báo, gởi các nhà cầm quyền, chắc cũng có thể có một tiếng vang ở trong quần chúng. Ngày xưa sở dĩ những ông vua làm như vậy là vì quần chúng đòi hỏi như vậy, quần chúng chờ đợi như vậy. Bây giờ chúng ta là quần chúng mà chúng ta không đòi hỏi những chuyện đó, chúng ta không chờ đợi những chuyện đó, thì những người ở trong chính quyền không làm những chuyện đó. Đó là một sự mất mát rất lớn.

Giáo Hội Yên Tử

Chúng ta biết rằng đã có khuynh hướng thống nhất Phật giáo từ thế kỷ thứ 13 và 14 ở nước Đại Việt. Điều này có ghi lại trong quốc sử. Ba phái, bốn phái, năm phái thiền được thống nhất trong một phái là phái Trúc Lâm. Tuy nhiên các phái khác vẫn còn tiếp tục.

Giáo hội Yên tử là một giáo hội khá lớn. Mỗi năm người ghi tên và được thọ giới lớn lên đến 15 ngàn người! Không phải là sa di mà là những người được thọ giới lớn do giáo hội Trúc Lâm tổ chức. Hàng năm giáo hội Trúc Lâm tổ chức những khóa an cư kiết Hạ ở tại nhiều địa điểm lớn của giáo hội trên núi Yên Tử và được rất nhiều người ưa thích, tại vì họ được tu gần với vua. Ngoài ra còn có chùa Sùng Nguyên và các chùa khác ở thành phố. Nếu mình là sư chú hay sư cô, nếu mình là người xuất gia thì mình có một ao ước được kiết hạ một lần ở trên núi Yên Tử. Cái ao ước đó được thể hiện trong câu ca dao:

Dầu ai quyết chí tu hành, Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

Nghĩa là người nào, sư chú, sư cô nào cũng có mộng ước được lên núi Yên Tử tu ba tháng với Hương Vân Đầu Đà, tức Trúc Lâm Đại Sĩ.

Cố nhiên ở trên núi, muốn tiếp nhận vào khoảng 500 vị xuất gia về kiết Hạ an cư thì phải chặt tre, phải đốn gỗ, phải làm những liêu xá để cho khóa an cư mùa Hè. Chùa Vân Yên thì nhỏ, làm sao chứa được cho nhiều?

Trước khi đi xuất gia, Trần Nhân Tông đã cho trồng rất nhiều thông ở trên núi Yên Tử. Đó là vào cuối thế kỷ thứ 13 và đầu thế kỷ thứ 14. Những cây thông của vua cho trồng hồi đó còn nhiều cây đang sống, rễ cây chằng chịt. Vì vậy nếu quý vị có về núi Yên Tử thì hãy nhìn những cây thông đó cho kỹ, hãy đưa tay sờ những gốc thông đó với tất cả chánh niệm của mình. Bảy trăm năm đã đi qua trên những cây thông đó.

Trước ngày xuất gia, vào tháng 7 năm 1299 nhà vua có cho dựng trên núi Yên Tử một cái am. Người ta gọi am đó là Ngự Dược Am. Trong am đó người ta tinh chế nhiều loại thuốc làm bằng lá cây. Trên núi Yên Tử còn có Am Thung, Am Dược. Am Thung là nơi người ta hái về những lá cây, những rễ cây, giã ra rồi luyện thành từng viên thuốc. Am Thung là để bào chế, Am Dược là để cất chứa những viên thuốc đó. Không phải chỉ để cho vua và hoàng gia dùng. Vào những năm có bệnh tật nhiều, triều đình đem phân phát thuốc đó cho dân chúng sử dụng. Có một loại thuốc trị được rất nhiều căn bệnh gọi là Hồng ngọc sương, được bào chế trên núi Yên Tử. Các sư chú, sư cô có dịp về, nếu có duyên, nên học phương cách chế tạo thuốc Hồng Ngọc Sương.

Tháng 7 dựng am thì tháng 8 vua xuất gia. Tuy là học trò, đã từng theo học với Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhưng Trúc Lâm Đại Sĩ rất để ý tới vấn đề hình tướng. Tuệ Trung thì không để ý tới hình tướng, rất là phá chấp, không cần hình tướng. Tuy vậy Trúc Lâm Đại sĩ rất chú trọng về phương diện hình tướng. Vua không bị kẹt vào hình tướng, nhưng vua thấy rằng hình tướng rất quan trọng.

Ban đầu thì cũng có nhiều người nói rằng vua đâu cần phải đi xuất gia, vua cứ ở trong cung Thiên Trường rồi ăn chay, tụng kinh, niệm Bụt, tham khảo, thiền tập là được rồi. Nhưng vua không bằng lòng. Vua muốn trở nên một người xuất gia đích thực.

Vua có khiếu tổ chức giáo hội, vua rất để ý đến vấn đề hình thức, vì hình thức cũng rất quan trọng. Chúng ta thấy vua cũng có lý, tại vì mỗi khi có những nghi lễ như là thỉnh chuông, chắp tay, hay tán lễ, thì tâm của chúng ta nó định một cách rất dễ dàng. Chiếc áo thầy tu tuy là hình thức, chiếc áo không đủ làm ông thầy tu, nhưng chiếc áo nó giúp cho chúng ta rất nhiều. Chiếc áo giúp cho chúng nhớ rằng chúng ta là ông thầy tu. Cái đầu trọc của chúng ta cũng vậy. Nó là hình thức thôi, nhưng mỗi khi sờ lên trên đầu, chúng ta nhớ rằng ta là ông thầy tu.

Ngày xưa Bụt đã có lần nói rằng: Nhử đẳng tì khưu! Nhử đẳng tì khưu đương tựa ma đầu.  Nghĩa là này các thầy khất sĩ, thỉnh thoảng các thầy nên đưa tay lên sờ đầu của quý thầy. Mục đích là để nhớ rằng mình là ông thầy tu. Hình tướng nó cũng rất quan trọng. Kẹt vào hình tướng thì không được, nhưng sử dụng hình tướng để nhắc nhỡ, để có chánh niệm là chuyện rất quan trọng. Đó là mối tư duy của vua Trần Nhân Tông.

Ngày vua đi xuất gia, tất cả nước đều ăn mừng. Hồi đó ở Đại Việt đạo Ki-tô chưa truyền tới. Chúng ta chỉ mới có đạo Bụt, đạo Khổng và đạo Lão thôi. Hai đạo đó đã bắt đầu đi đôi với đạo Bụt.

Ngày vua xuất gia, mọi người đều hướng về ngọn núi Yên Tử. Núi Yên Tử trở nên một thánh địa, một trung tâm của cả nước. Núi Yên Tử trở nên cái biểu trưng cho nếp sống tâm linh. Cho nên Thăng Long là kinh đô chính trị, nhưng núi Yên Tử là kinh đô tâm linh. Chúng ta có một ngọn núi để hướng về, rất là tốt, rất là quan trọng. Đạo Bụt trở thành một yếu tố tâm linh. Nó có thể liên kết được toàn dân với mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tuy vua Nhân Tông và vua Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng họ cũng là những Phật tử rất thuần thành. Họ là những người Phật tử thật sự, chứ không phải là những nhà chính trị muốn lợi dụng đạo Phật để củng cố quyền hành như có người nghĩ. Có những ông vua ủng hộ Phật giáo là để có sự yểm trợ của một tôn giáo, nhưng hai vị vua này, họ là những chính trị gia giỏi, nhưng đồng thời họ cũng là những Phật tử rất nhiệt thành.

Vua sinh năm 1258, và khi 20 tuổi đã phải làm vua. Ngài xuất gia năm 41 tuổi. Tịch năm 1308, vào năm vừa được 51 tuổi.

Sử chép rằng hồi còn nhỏ Trúc Lâm đã có ý không muốn làm vua, và muốn nhường chức Đông Cung Thái Tử lại cho em ruột. Hạt giống làm sư chú nó có sẵn, cho nên không muốn làm vua. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không nói việc này nhưng Tam Tổ Thật Lục có nói như sau:

Một đêm vào giờ Tý, người con trai đó vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử. Đến chùa ở núi Đông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn ở trong tháp. Vị trụ trì thấy tướng mạo rất dị thường liền đem thức ăn chay ra khoản đãi. Lúc đó Thái Hậu và vua Thái Tông sai quần thần đi tìm (Vua cũng đã trốn lên núi Yên Tử giống hệt như ông nội hồi đó!). Rốt cuộc vua phải về cung.

Khi lên ngôi, tuy ngồi trên chín bệ vinh quang, nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh. Một hôm vua ngủ trưa tại chùa Tư Phúc trong Đại Nội thì mộng thấy trên lỗ rốn của mình nở ra một bông sen lớn như cái bánh xe bò. Trên hoa sen đó có một vị Bụt bằng vàng đang ngồi. Bên cạnh có một người chỉ vào vua và nói: Có biết đức Bụt này không? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy.

Biến chiếu tôn tức là ánh sáng soi khắp cùng. Lúc thức dậy, vua đem giấc mộng nói lại cho cha là vua Thánh Tông nghe. Ai cũng lấy làm lạ. Từ hôm đó thì thái tử bắt đầu ăn chay, và không muốn làm vua. Cho nên một đêm đã trốn khỏi cung điện để tìm lên núi Yên Tử như ta đã biết!

Sách Tam Tổ Thật Lục viết tiếp như sau:

Điều Ngự Thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách, thông suốt cả nội điển lẫn ngoại điển (Nội điển là kinh Bụt, ngoại điển là sách vở của các hệ thống triết lý ngoài đời). Và thường mời các vị thiền khách tới mà giải cứu thiền học. Điều Ngự cũng tìm tới tham khảo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, và do đó thâm nhập được cốt tủy của thiền tập, cho nên thường lấy tư cách đệ tử để đối đãi với Tuệ Trung.

Đó là những câu trích từ trong sách Tam Tổ Thật Lục. Nghe nói sách này đã được dịch ra tiếng Việt và in ở Việt Nam, cho nên mình có thể tìm được.

Cố nhiên Trúc Lâm rất thương kính Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nhưng Tuệ Trung là một người cư sĩ, cho nên khi xuất gia, thọ 250 giới thì vua phải lên núi Yên Tử và cầu thiền sư Huệ Tuệ.

Ngày xuất gia của vua, triều đình có ấn hành một tập sách để kỷ niệm. Tập sách đó tựa là Phật giáo Pháp sự Đạo tràng Công văn Cách thức. Một cuốn sách giống như cuốn Nghi Thức Tụng Niệm Năm 2000 của Làng Mai.

Đó là một cuốn sách nói về thể thức và các bài văn, sớ, tấu, điệp dùng trong các nghi lễ thọ giới, chẩn tế, cầu an, cầu siêu, khánh thành. Cuốn sách này không phải do một chùa in ra, mà là do triều đình in ra để kỷ niệm ngày xuất gia của vua. Vua tu học rất tinh tấn, và trên núi Yên Tử, vua thường ở tại một cái am gọi là Am Thạch Thất, được xây bằng đá.

Trúc Lâm Và Tình Giao Hảo Việt – Chiêm

Năm 1301 Trúc Lâm đi Chiêm Thành để quán sát Phật giáo ở tại nước này. Chiêm Thành là một nước ở phía Nam Đại Việt. Hồi đó lãnh thổ Chiêm thành bắt đầu từ Huế đi vào trong Nam. Hồi đó kinh đô của Chiêm Thành là tại Bình Định bây giờ. Trước đó thì kinh đô Chiêm Thành ở tại Đà Nẵng, nhưng sau đó thì họ dời kinh đô về Bình Định.

Giữa Chiêm Thành và Đại Việt thường có những vấn đề về biên giới. Thỉnh thoảng người Chiêm Thành qua đánh phá ở biên giới, và người Chiêm Thành rất giỏi về hải quân, nhiều khi Đại Việt bị thua. Ở biên giới thường bị quấy nhiễu, cướp bóc rất nhiều, cho nên thỉnh thoảng các vua Lý, vua Trần phải đem binh tới đánh dẹp. Chúng ta biết rằng thiền sư Thảo Đường là một tù binh đã bị bắt trong một cuộc chinh phạt như vậy vào triều Lý.

Chiêm Thành, (Kingdom of Champa) là một nước thuộc địa bàn văn hóa Ấn Độ. Trong khi đó Đại Việt, từ ngày còn là nước Văn Lang, Giao Chỉ thì cũng thuộc địa bàn văn hóa Ấn Độ, nhưng về sau có liên hệ với nhà Hán nên chịu yếu tố văn hóa Trung Hoa càng ngày càng lớn, cho đến độ ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa lấn áp yếu tố văn hóa Ấn Độ. Trong khi đó thì nước Chiêm Thành chưa chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nên văn minh của họ thuộc về địa bàn văn hóa Ấn Độ.

Giữa hai nước thường có những sự tranh chấp, cho nên chiến tranh giữa hai nước rất dễ xảy ra. Vì vậy thiền sư Trúc Lâm đã đi Chiêm Thành, một mặt để quan sát Phật giáo tại nước này, một mặt để tìm cách tạo dựng hòa bình giữa hai nước. Đi không phải với tư cách một nhà chính trị mà đi với tư cách của một ông thầy tu.

Vua đi từ tháng ba, mà đến tháng 10 vua mới về, ở lại bên đó đến hơn 6 tháng. Hồi đó vua của Chiêm Thành là Chế Mân. Ông thầy tu này tuy không còn làm vua nữa, ông cũng không còn là một nhà chính trị nữa, nhưng vua Chế Mân biết rằng ông thầy tu này rất quan trọng. Ông là cha của ông vua Đại Việt và là vị lãnh đạo tinh thần của cả một nước, cho nên vua Chế Mân tiếp đón rất nồng hậu.

Nhưng Trúc Lâm Đại Sĩ đã không ở lại trong cung, ngài luôn luôn về chùa để ở. Hồi đó chùa ở Champa chỉ tụng kinh bằng tiếng Sanscrit thôi. Thành ra sau một thời gian trú tại tu viện Phật giáo ở kinh đô Chiêm Thành, nhà vua đã học được rất nhiều, đã quán sát được nền Phật giáo tại nước Chiêm Thành, và vua đã làm cho các thầy ở bên đó rất kính nể.

Sau nhiều lần nói chuyện với vua Chế Mân thì Trúc Lâm Đại Sĩ đề nghị gả con gái cho vua Chế Mân để thắt chặt tình giao hảo giữa hai nước, để sau này hai nước không đánh nhau nữa. Vua nói rằng con gái của tôi còn đang trẻ lắm, mới có mười bốn mười lăm tuổi, thành ra mấy năm nữa thì nhà vua mới nên cử người sang để cầu hôn.

Hồi đó vua Chế Mân đã có hoàng hậu rồi. Hoàng hậu là người Java. Sau khi dàn xếp xong rồi, hai bên thông cảm rồi thì vua lên đường trở về nước. Mục đích của vua là xây dựng tình hòa hữu giữa hai nước, làm nền tảng cho một nền hòa bình lâu dài giữa hai nước.

Năm 1305 lúc công chúa Huyền Trân đã đến tuổi lấy chồng thì vua Chế Mân mới gởi qua một phái đoàn cầu hôn gồm tới 100 người, do một vị quan tên là Chế Bồ Đài, mang theo vàng, bạc, hương trầm, ngà voi, và những bảo vật khác sang cầu hôn công chúa Huyền Trân.

Khi phái đoàn của vua Chế Mân tới thì Trúc Lâm Đại Sĩ đang trú ở Kỳ Lân Viện, và đang bận làm lễ truyền giới Khất sĩ cho một sư chú mà Trúc Lâm Đại Sư rất cưng, đó là sư chú Pháp Loa, sau này là tổ thứ hai của môn phái Trúc Lâm. Loa tức là cái ống loa, Dharma Loud speaker. Vì vậy Trúc Lâm không tới tiếp phái đoàn này được, mà triều đình phải tiếp. Trong triều có nhiều vị quan không đồng ý. Họ nói tại sao công chúa của mình lá ngọc cành vàng mà lại đem gả cho một ông ở một nước không văn minh? Chê người ta như vậy đó! Ếch ngồi đáy giếng, tự cho mình là oai lắm, còn tất cả chung quanh đều là thiếu văn minh!

Trong buổi họp triều đình đó có rất nhiều người chống việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân. Nhưng có hai người là Văn Túc Vương Đạo Tái và thượng tướng Trần Khắc Chung, cả hai đều nói rằng Thượng Hoàng đã hứa, và một lời hứa của Thượng Hoàng là rất lớn. Thượng Hoàng hứa với tư cách của một người cha, của một bậc Thượng Hoàng, của một vị lãnh đạo Giáo Hội Trúc Lâm mà bây giờ mình lật lọng thì không được. Hơn nữa cái thấy của Thượng Hoàng rất sáng, cái tuệ giác của Thượng Hoàng rất lớn, chúng ta phải biết tuân theo cái thấy đó, cái tuệ giác đó.

Rốt cuộc vua Anh Tông chấp nhận sính lễ, và cho phái đoàn biết là năm sau, tức là năm 1306 thì có thể qua làm lễ rước dâu.

Duyên Nghiệp Của Nàng Công Chúa Tên Huyền Trân

Chúng ta tưởng tượng người lo lắng nhất, sợ hãi nhất là cô công chúa! Tháng Sáu năm sau, 1306 thì công chúa Huyền Trân phải về nhà chồng. Trong lễ cưới này vua Chế Mân dâng đất để làm sính lễ. Vua dâng hai châu là Châu Ô và Châu Ri hay còn gọi là Châu Lý, mà sau này là Thuận Hóa. Thành ra Huế và Thừa Thiên ngày xưa là thuộc về đất Chàm. Châu Ô và Châu Lý sau đổi thành Châu Thuận và Châu Hóa, gọi chung là Thuận Hóa.

Sử có ghi lại rằng khi hai châu đó trở thành lãnh thổ của Đại Việt thì một số dân cư ở trong đó phản đối, họ không chịu theo quốc tịch Đại Việt. Đó là những thôn La Thủy, Tác Hồng và Trà Bồng. Vua Anh Tông phải sai Đoàn Nhử Hài, anh chàng sinh viên viết thư tạ tội giùm cho vua ngày xưa và là một người rất tâm phúc với vua, tới các thôn này để cắt nghĩa, để tuyên dụ cái đức ý của triều đình, để chọn những người giỏi ở trong các thôn đó ra làm quan, để tha thuế cho họ rồi họ mới yên, mới chịu chấp nhận sự cai trị của Đại Việt.

Nhưng cuộc tình duyên giữa vua Chiêm Thành Chế Mân và công chúa Huyền Trân rất ngắn. Công chúa về nhà chồng vào tháng 6 năm 1306, thì đến tháng 5 năm sau, 1307 vua Chế Mân băng hà. Rất là tội nghiệp! Lấy chồng được có một năm thì chồng chết!

Theo tục lệ thì hoàng hậu phải bị thiêu một lần với nhà vua. Mà công chúa còn trẻ lắm, chưa tới 20 tuổi! Nhưng may là công chúa đang có thai, cho nên người ta cho phép công chúa khỏi bị thiêu sống cùng lượt với nhà vua. Theo tục lệ Ấn Độ thì hoàng hậu phải được thiêu sống với nhà vua khi vua băng.

Công chúa Huyền Trân có viết thư về, và nói rằng mình đang có thai, và sau khi sinh con rồi thì mình có thể bị thiêu để đi theo vua, tại vì ở bên kia vua đang cô đơn, thiếu người tâm phúc.

Khi thái tử Dayada (Chế Đa-Gia), tức là con của công chúa được sinh ra thì công chúa có gởi về nước một phái đoàn, đem theo một con voi trắng, để báo tin thái tử Chế Đa-Gia đã được sinh ra.

Lúc đó vua Anh Tông thương em gái quá, nên bàn với các quan tìm cách cứu em gái để công chúa khỏi bị chết thiêu. Người ta mới bí mật lập ra một mưu kế để bắt cóc công chúa về.

Triều đình Đại Việt gởi một phái đoàn do thượng tướng Trần Khắc Chung lãnh đạo. Phái đoàn đó được gởi qua Chiêm Thành nói là để tham dự Lễ Trà kỳ tức là lễ hỏa thiêu hoàng hậu Huyền Trân.

Lúc đó phái đoàn tổ chức rất nhiều chiếc thuyền bơi nhanh, phục sẵn ở ngoài biển, và một chiếc thuyền lớn đậu cách đó khá xa. Phái đoàn giải thích rằng theo tục lệ của Đại Việt thì phải ra biển làm lễ cầu siêu cho vua Chế Mân, xong rồi thì trở vào đất liền để dự lễ thiêu thân của hoàng hậu Huyền Trân. Vì vậy họ đem theo một số các thầy Việt Nam, đi bằng một chiếc thuyền, rước công chúa Huyền Trân và thái tử Chế Đa-Gia ra ngoài biển để làm lễ.

Hình như triều đình Chiêm Thành biết được âm mưu đánh cắp công chúa Huyền Trân về Đại Việt. Nhưng họ làm lơ, và họ cho phép công chúa ra làm lễ, nhưng nhất quyết không cho thái tử Chế Đa-Gia đi theo. Theo kế hoạch của Đại Việt thì phải đưa cho được cả hai mẹ con về. Nhưng triều đình Chiêm Thành nhất quyết không chịu.

Trong khi đang làm lễ cầu siêu ở ngoài biển, đột nhiên những thuyền nhỏ của Đại Việt xuất hiện, mỗi thuyền hai người, chèo đến cướp lấy công chúa và bơi rất nhanh về phía thuyền lớn. Sự kiện hải quân Chiêm Thành không đuổi theo, chứng tỏ rằng bên Chiêm Thành họ biết mưu mô này, và họ cho phép công chúa được bắt cóc, để khỏi bị thiêu sống!

Phái đoàn đem được công chúa về Đại Việt, nghỉ ngơi tại Châu Hóa, nhưng Trần Khắc Chung và một vị quan lớn phụ tá nghĩ rằng mình có thể gởi thêm một phái đoàn thứ hai, để bắt cóc cho được thái tử Chế Đa-Gia. Lần này thì đi đường bộ. Nhưng sau một thời gian năm sáu tháng, những phái đoàn gởi đi đều thất bại hết, cho nên rốt cuộc là phái đoàn của Trần Khắc Chung phải trở về, có người mẹ mà không có người con!

Công chúa Huyền Trân về tới Thăng Long thì lên thăm Trúc Lâm Đại Sĩ ở trên núi Yên Tử và công chúa ngỏ ý muốn được xuất gia. Tại vì công chúa tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã trải qua nhiều đau khổ, đã suýt bị chết thiêu. Trúc Lâm Đại Sĩ bằng lòng nhưng chưa kịp làm lễ xuất gia cho Huyền Trân thì Trúc Lâm Đại Sĩ thị tịch!

Trúc Lâm Đại Sĩ rất muốn thiết lập sự thông cảm giữa hai nước, cho nên đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chàm. Sự kiện triều đình Đại Việt tổ chức một cuộc bắt cóc như vậy Trúc Lâm Đại Sĩ không biết. Nếu biết thì chắc chắn ngài đã can thiệp. Tuy thương con, nhưng cử chỉ này là một cử chỉ không thẳng thắn.

Từ Tâm Của Người Tu

Sau khi được tin công chúa Huyền Trân đã được bắt cóc về, Trúc Lâm Đại Sĩ rất ngại bên kia họ nổi giận. Tất cả những công trình hòa giải mà mình thực hiện bấy lâu nay bị tan thành mây khói, cho nên Đại Sĩ mới viết một bức thư cho vua Anh Tông, nói rằng bây giờ muốn cho bên kia họ bớt giận thì con nên lấy một chiếc thuyền lớn, chở vào khoảng 300 người Chiêm Thành, cho họ về nước để chuộc lỗi. Tại vì ở kinh đô cũng có rất nhiều người Chàm giỏi, những nhạc sĩ giỏi, những người thợ tài ba, bây giờ mình đem họ trả về Chiêm Thành để chuộc lỗi. Quyết định đó đã được làm ở trên núi Yên Tử, tại vì trước sau thì Thượng Hoàng muốn thiết lập một nền giao hảo tốt đẹp giữa hai nước, để tránh chiến tranh dai dẳng cho cả đôi bên.

Ngoài những mùa an cư ở trên núi, Trúc Lâm Đại Sĩ thường hay du hành trong nhân gian. Ngài khoát y, cầm bình bát và đi bộ vào các thôn làng. Ngài thuyết pháp, dạy người ta ngồi thiền, dạy người ta về năm giới, và dạy người ta về giáo lý Thập thiện. Trong Tam Tổ Thật Lục có nói rằng đi tới đâu Trúc Lâm Đại Sĩ cũng dạy người ta thực tập giáo lý Thập thiện. Giáo lý Thập thiện rất gần với giáo lý Tiếp hiện. Giáo lý tiếp hiện đã được thiết lập trên căn bản của Thập Thiện Nhập Đạo.

Đi tới nơi đâu có những đền thờ, thờ những đối tượng mê tín thì vua khuyên dân chúng nên bỏ những sự thờ cúng mê tín đi mà chỉ thờ Bụt, Pháp và Tăng mà thôi.

Hình 1 –  Lingam trưng bày tại Bảo Tàng Viện Chàm – Đànẵng (Ảnh: Tâm Thiện Căn – 2006)

Hồi đó Đại Việt cũng còn ảnh hưởng tín ngưỡng của Ấn Độ. Có những đền thờ Lingam, tức là một trụ đá được đẽo gọt. Ngoài ra còn có những đền thờ, thờ cơ quan sinh dục của đàn ông và đàn bà, gọi là Sinh Thực Khí. Tại vì cơ quan sinh dục của đàn ông và đàn bà tượng trưng cho sự phồn thịnh, sự phát triển, cho nên người ta thờ những đối tượng như vậy. Lingam cũng là một biểu tượng có dính líu tới ý niệm đó. Khi đến đâu có những đền thờ như vậy, nhà vua đều khuyên dân nên bỏ đi để lập chùa thờ Phật mà thôi.

Chúng ta hãy tưởng tượng một ông vua con ngồi trên ngai làm chính trị, và một ông vua cha làm thầy tu, đi chân đất. Một bên là đời sống chính trị, luật pháp; một bên là đời sống tâm linh. Dân chúng được nuôi dưỡng một mặt là đời sống tâm linh, và một mặt là đời sống chính trị.

Cố nhiên Đại Việt luôn luôn bị đe dọa bởi sự xâm lấn của phương Bắc, cho nên ai cũng biết rằng toàn dân phải đoàn kết, phải thương nhau, mới tránh được tai nạn bị xâm chiếm. Phương Bắc đã xâm chiếm Đại Việt nhiều lần. Đại Việt là một nước nhỏ, nằm ở phương Nam của một nước rất khổng lồ. Nước khổng lồ đó có thể nuốt trọn Đại Việt bất cứ lúc nào! Ngày xưa cũng có nhiều nước nhỏ như Đại Việt và họ đã bị nước lớn đó nuốt trọn.

Cuộc đời xuất gia của Trúc Lâm Đại Sĩ là một cuộc đời hoạt động rất tích cực. Nhà vua dự các mùa kiết Hạ an cư chung ở Yên Tử, có khi an cư ở Am Tứ Tiêu, có khi an cư ở am Ngọa Vân, tức là Am Mây Ngủ, hoặc Am Thạch Thất, hay Am Tri Kiến, có khi dạy kinh, dạy luật tại các chùa Vĩnh Nghiêm và Siêu Loại. Ngoài các sinh hoạt đó, Trúc Lâm Đại Sĩ thường đi vân du và hoằng pháp. Đi tới đâu ngài cũng được dân chúng ái mộ. Và những lời khuyên dạy của vua đã có tác dụng rất lớn ở trong dân chúng.

Năm 1304 vua Anh Tông mời Trúc Lâm Đại Sĩ vào cung để xin thọ Tại gia Bồ tát Tâm giới. Ngày Trúc Lâm Đại Sĩ đi vào trong Đại nội để truyền giới cho vua con, thì các quan đi ra đón rất đông, và khi thấy vua con thọ Bồ tát giới thì cũng có rất nhiều người cũng xin thọ Tam quy Ngũ giới.

Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo đi vào cuộc đời. Đạo Phật được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, chính trị, văn hóa. Như vậy điều mà chúng ta gọi là đạo Bụt nhập thế, sau này gọi là Nhân gian Phật giáo hay Đạo Phật đi vào cuộc đời, mà tiếng Anh gọi là Engaged Buddhism, là một điều đã từng có ở Đại Việt lâu năm, lâu tháng lắm rồi.

Trong cuốn Am Mây Ngủ, đã được dịch ra tiếng Anh[1], quý vị có thể đọc được những chi tiết khá đầy đủ về cuộc đời của Trúc Lâm Đại Sĩ. Am Mây Ngủ nói về chuyện Công Chúa Huyền Trân, nhưng trong đó tất cả những tài liệu có liên hệ tới Trúc Lâm Đại Sĩ đều đã được đưa vào. Đó không phải là một cuốn tiểu thuyết giả sử, đó là một cuốn ngoại sử. Khi viết cuốn đó tác giả đã phải kê cứu rất nhiều các tài liệu về sử. Đã căn cứ vào Quốc sử, và cũng đã căn cứ vào những thư tịch mà nhà chùa đã giữ lại được, như những cuốn Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, Tam Tổ Thật Lục, Khóa Hư Lục v.v…

Thành ra khi học về Trúc Lâm Đại Sĩ Trần Nhân Tông, xin quý vị tìm giờ đọc lại cuốn Am Mây Ngủ. Trong đó, những gì xảy ra trong mấy ngày cuối của cuộc đời Trúc Lâm Đại Sĩ đã được ghi chép một cách rõ ràng và chi tiết.

Ngày Cuối Của Trúc Lâm Đại Sĩ

Trúc Lâm Đại Sĩ qua đời trên núi Yên Tử. Ngài không muốn cho triều đình biết, cho nên ngài không cho thông báo về kinh đô. Trong những giờ chót của cuộc đời, Trúc Lâm Đại Sĩ được bao bọc bởi các vị đệ tử thân yêu của ngài mà thôi. Ngài có dặn rằng sau khi ngài tịch thì nên làm lễ trà tì ngài ngay trên núi Yên Tử. Làm xong rồi thì mới báo tin về triều đình.

Lúc đó ngài ở trong Am Ngọa Vân, và ngài đề nghị đốt luôn cả cái am đó để làm lễ trà tì. Sau khi làm lễ trà tì và thâu nhập Xá lợi rồi thì các thầy mới báo tin về cho triều đình biết. Lúc đó vua Anh Tông khóc, công chúa Huyền Trân cũng khóc, và các quan đều lên núi đầy đủ. Có người đề nghị bắt bỏ tù các vị đệ tử của Trúc Lâm Đại Sĩ, tại vì đã làm lễ trà tì Thượng Hoàng mà không cho triều đình biết! May mắn là đã có di chúc của Trúc Lâm Đại Sĩ trên giấy trắng mực đen, cho nên họ không làm gì được. Trúc Lâm Đại Sĩ muốn rằng mình đã xuất gia thì gia đình của mình là gia đình người xuất gia. Mình không muốn có lễ quốc táng, không muốn có một đám tang của người ở ngoài đời.

Quý vị đọc Am Mây Ngủ thì sẽ thấy chi tiết đầy đủ trong đó. Chúng ta để thì giờ ở đây để nói về giáo lý, về phương pháp tu học của Trúc Lâm Đại Sĩ.

Trong số những tác phẩm của Trúc Lâm Đại Sĩ để lại, có hai bài phú viết bằng chữ Nôm mà ít người biết tới. Trong khóa học này chúng ta sẽ học kỹ một bài đó, tức là bài Cư Trần Lạc Đạo.

Chúng ta biết rằng chữ Nôm là một thứ chữ được sáng tạo tại nước ta bắt đầu từ đời nhà Lý. Có những bia đá dựng vào đời Lý Cao Tông đã mang một số chữ Nôm. Chữ Nôm mượn những nét của chữ Hán và viết theo phương pháp gọi là giả tá, có khi dùng cái nghĩa, có khi dùng cái âm, có khi dùng cả hai cái góp lại với nhau.

NGUỒN GỐC CỦA CHỮ NÔM

Người đầu tiên sáng tạo ra chữ Nôm là các thầy, nhất là các thầy phải đi làm lễ cầu siêu và cầu an. Tại vì trong những sớ điệp, thỉnh thoảng phải viết tên người mà không có trong âm chữ Nho, như chữ Tròn chẳng hạn. Chữ Hán Việt là Viên. Nhưng tên của bà này là Trần thị Tròn. Vì vậy họ phải sáng tạo ra chữ tròn.

Nói tới chữ tròn tôi có một chuyện tiếu lâm rất buồn cười. Có một ông thầy đó, ông chưa viết giỏi chữ Nôm cho nên khi viết tới tên Trần thị Tròn, thì ông không biết viết thế nào, cho nên ông vẽ một vòng tròn. Ông thầy này là một ông thầy cúng. Không biết có đứa nhỏ nào nghịch, nó thêm vào một gạch. Đến khi đọc sớ, thay vì ông đọc Trần thị Tròn, ông đọc Trần thị Gáo! Gia chủ mới cải chính: Thưa thầy tôi tên là Trần thị Tròn chứ đâu phải Trần thị Gáo? Ông giận quá nên nói: Tiên sư đứa nào mới thêm cái cán vào đây!

Các bạn không phải người Việt biết rằng ở Việt Nam người ta dùng trái dừa làm gáo để múc nước. Họ khoan hai cái lỗ ở vỏ cứng của trái dừa và cho vào một cán tre để làm một dụng cụ múc nước.

Vì vậy nhu yếu sáng tạo chữ Nôm nó bắt đầu từ nghi lễ và tên người. Trong lễ hầu quan, khi xử kiện thì phải viết tên người ta bằng chữ Nôm. Sau một thời gian thì chữ Nôm phong phú thêm lên.

Cư Trần Lạc Đạo là sống ở trong cõi bụi bặm nhưng rất hạnh phúc với pháp môn tu học. Chúng ta nên biết rằng đây là tác phẩm bằng chữ Nôm xưa nhất mà chúng ta có. Nghe nói rằng dưới triều của Trần Nhân Tông có một học giả tên là Nguyễn Thuyên, cũng biết chữ Nôm. Vua Trần Nhân Tông rất thương Nguyễn Thuyên.

Có một lần ở sông Cái có những con cá sấu lớn xuất hiện và ăn thịt người ta! Vua mới nói rằng: Chúng ta phải làm bài văn tế cá sấu, và sau khi tế rồi thì chúng ta đốt và liệng bài văn đó xuống sông. Nghe nói Nguyễn Thuyên đã làm bài văn tế cá sấu bằng chữ Nôm, thay vì bằng chữ Hán. Thấy văn hay cho nên vua mới khen và đổi tên Nguyễn Thuyên ra Hàn Thuyên. Hàn là một cái họ lớn ngày xưa, rất nổi tiếng về văn chương. Nghe nói Hàn Thuyên là người sáng tạo ra tác phẩm đầu bằng chữ Nôm có thể truyền lại, nhưng tác phẩm đó hiện giờ không còn nữa. Chỉ còn một bài gọi là Văn tế Cá sấu, nhưng khi đọc thì chúng ta biết đó là ngụy tạo.

Văn Bản Chữ Nôm Đầu Tiên Của Văn Học Việt Nam

Trong khi đó thì bài Cư Trần Lạc Đạo này đã được chùa truyền lại và chúng ta phải biết rằng đây là tác phẩm Nôm xưa nhất còn được giữ lại.

Ta hãy đọc vài câu để làm thí dụ:

Mình ngồi thành thị, Nếp dụng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính. Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.

Đó là viết trực tiếp bằng chữ Nôm, không phải chữ Nho dịch ra. Chữ “mình” thì dùng chữ “mạng”, Chữ thành thì không có vấn đề, vì chữ Hán Việt có sẵn chữ “thành thị”. Nhưng chữ “ngồi” thì chưa có, cho nên phải dùng chữ “ngoại” là ngoài, và chữ “tọa” là ngồi. Một bên chữ tọa có nghĩa là ngồi, một bên chữ ngoại nó rất gần với âm ngồi, cho nên người đọc biết cách phát âm.

Mình ngồi thành thị, là cái thân của mình tuy ngồi ở chốn thành thị.

Nếp dụng sơn lâm. Chữ “sơn lâm” cũng không có vấn đề, vì sơn lâm là tiếng Hán Việt. Thân mình tuy ngồi ở chỗ thành thị, nhưng nếp sống của mình nó đã là nếp sống của người đang ở trong núi, trong rừng.

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tánh, Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Chữ nửa gồm một bên là chữ bán, nghĩa là một nửa, một bên là chữ “nữ” dùng để phụ về âm, vì chữ “Nữ” nó gần âm với chữ nữa. Và hai chữ Hán “Bán-Nữ” ghép lại, làm thành một chữ Nôm là “Nửa”. Đó là cách tạo dựng chữ Nôm.

Cũng vậy, chữ “ngày” một bên là chữ “nhật” còn một bên là chữ “ngại”, đọc là “ngày”. Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tự tại thân tâm thì không có vấn đề. Đó là bốn câu lấy trong Cư Trần Lạc Đạo để ví dụ.

Thành ra cách viết thì thấy giống như chữ Hán, nhưng khi đọc thì không hiểu gì hết. Phải biết chữ Nôm thì mới đọc được! Vua Trần Thái Tông, Trúc Lâm Thượng Sĩ rất giỏi chữ Nôm. Có thể nói ngài là tổ của văn chương chữ Nôm. Thường thường mình nói tới vua như là một nhà chính trị hay là một ông thầy tu, nhưng mình chưa từng nói tới vua như là người đi tiên phong trong việc sáng tác văn học bằng chữ Nôm.

Nước Anh có Shakespeare[1] cũng vậy, ở Đức cũng vậy, có những tác phẩm xưa, nói lên kinh nghiệm tâm linh của các vị tổ sư. Khi đọc không phải chỉ học văn chương, mà chúng ta thực tập tiếp xúc với tổ tiên của chúng ta ngày xưa nữa. Khi nối tiếp được với tổ tiên rồi thì cái cảm giác lạc lõng, bơ vơ, cô đơn của chúng ta sẽ tan biến.

Chúng ta nghe nói đến Trần Nhân Tông, và chúng ta nhắc tới tên vua rất nhiều, nhưng chúng ta không thực sự biết ngài là ai. Qua những tác phẩm như thế này chúng ta mới có thể thật sự tiếp xúc với con người của Trần Nhân Tông.

Nên xem

Thiền phái Thảo Đường

  NGƯỜI TÙ BINH TÊN THẢO ĐƯỜNG Ngày xưa ở phía Nam nước Đại Việt …