Home / Giảng Luận / Pháp đường – Pháp thoại phiên tả: Giảng Kinh Phước Đức – Phần V

Pháp đường – Pháp thoại phiên tả: Giảng Kinh Phước Đức – Phần V

(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 13.12 tại chùa Cam Lộ – Xóm Hạ trong thiền đường Hội Ngàn Sao trong mùa An Cư (2009-2010)

Một buổi sáng, sau khi ngồi thiền, trong lúc chúng ta đi từ thiền đường Chuyển Hóa về lại phòng mình trong không khí ban mai rất trong lành, chúng ta có thể thưởng thức từng hơi thở, từng bước chân của mình. Nếu biết đi cho chánh niệm thì mỗi bước chân đều có thể đem lại cho mình rất nhiều hạnh phúc. Buổi chiều cũng vậy, ngồi thiền xong đã sáu giờ mấy, trời bắt đầu tối và không khí ở bên ngoài rất trong lành, mát mẻ và mình có thể đi từng bước hết sức thảnh thơi, hết sức nuôi dưỡng.

Tôi nhớ hồi đầu năm nay, Tết âm lịch năm 2009, vùng này có bão, các xóm của Làng Mai bị cúp điện. Tôi bị chóng mặt, đầu choáng váng, ngồi không vững, mỗi khi ngồi dậy là cái đầu xoay xoay rất khó chịu. Tôi cũng không thể nào đi từ phòng mình tới phòng vệ sinh được. Cố gắng hết sức, vịn vào tường, đi từng bước một mà cũng không đi được, rất là khó khăn, thành ra tôi phải nhờ người đem tới một cái chậu để đi tiểu ngay trong phòng. Tình trạng đó cứ kéo dài suốt cả tuần lễ. Bây giờ tôi đã hết chóng mặt, nên đi lại rất dễ dàng và mỗi khi tôi nhớ tới mấy ngày mình bị chóng mặt, đi không được thì mỗi bước chân của tôi đều có hạnh phúc. Chỉ cần nhớ tới mấy ngày khó khăn đó và mong ước đi được những bước chân cho vững thì tự nhiên mình có cảm tưởng là mình rất may mắn.

Bài kệ thứ 13:
Thường dục ly tham dâm      常 欲 離 貪 婬
Ngộ si sân nhuế ý     遇 癡 瞋 恚 意
Năng tập thành đạo kiến      能 習 成 道 見
Thị vi tối cát tường     是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Biết xa lìa tham dục
Sân hận và si mê
Thường tu tập để mong đạt được chánh kiến
Đó là điềm lành lớn nhất.

Thường dục ly tham dâm: Có nghĩa là mình luôn luôn muốn lìa bỏ cái ham muốn và nhất là cái ham muốn về sắc dục. Mỗi khi có ham muốn, si mê và sân hận phát khởi thì mình phải nhận diện được nó. Chữ ngộ này có nghĩa là gặp.

Năng tập thành đạo kiến: Nhờ đó mà thấy được con đường thực tập, con đường Tứ Diệu Đế. Mình biết rằng tham, sân và si gây ra khổ đau, nhìn vào những khổ đau để thấy được gốc rễ của nó, thấy gốc rễ rồi thì sẽ thấy được con đường để chuyển hóa, đó là đạo kiến. Đạo kiến là thấy được con đường Bát Chánh, thấy được Tứ Diệu Đế.

Trong đạo Bụt mình thường hay nói tới ba năng lượng, ba chất độc (tam độc): tham dục, sân hận và si mê. Những chất độc này nó là những tâm hành, nó tiêu hủy thân tâm của mình và tiêu hủy thế giới. Có những chất độc thuộc về phạm vi hóa học ; vật lý hiện đang làm ô nhiễm môi trường, những chất độc hóa học đi vào trong nước, trong không khí, trong đất gây độc hại cho sự sống, đang tiêu diệt sự sống và các nhà khoa học, các nhà chính trị đang tìm cách khử diệt nó. Hiện giờ địa cầu bị hâm nóng là do chất khí CO2 quá nhiều trong không khí gây nên hiệu ứng nhà kính vì vậy nên các nhà khoa học đang tìm cách để chuyển hóa hoặc giảm bớt  nó. Khoa học nói rằng mình có thể cô đọng chất CO2 lại, nhốt vào trong tảng đá lớn rồi chôn ở trong lòng đất. Họ còn cho chúng ta biết rằng cây cối có khả năng hút chất CO2 và chuyển hóa, nhưng hiện nay chúng ta không những không có đủ cây cối mà chúng ta còn chặt thêm cây, đốn thêm rừng. Trong nông nghiệp, khi trồng trọt mình sử dụng quá nhiều chất độc hóa học, làm ô nhiễm đất đai, sông hồ, làm ô nhiễm luôn cơ thể của con người. Trong công nghệ, sự sử dụng xe hơi và kỹ thuật chăn nuôi cũng tạo ra rất nhiều chất độc. Nếu khí hậu thay đổi mà mình không thể ngăn cản được thì trái đất nóng lên, băng tan thành nước, những thành phố gần bờ biển bị tràn ngập và hàng triệu người sẽ bị chết. Người ta biết trước như vậy.

Trong kinh này thì nói tới độc tố tâm lý, là tham, sân và si. Sự tàn phá của các độc tố này cũng ghê gớm không kém gì độc tố hóa học. Ví dụ như chuyện tham, vì tham cho nên có chiến tranh. Muốn xứ mình có đủ năng lượng cho guồng máy khổng lồ của quốc gia cho nên mình đem quân đội đi xâm chiếm vùng có dầu lửa. Tham lam, sợ hãi là những chất độc tâm lý, chứ không phải chất độc vật lý. Chính chất độc tâm lý đó tạo ra chiến tranh, gây nên đổ vỡ. Nếu có chiến tranh, nếu có khủng bố, và có chống khủng bố thì tất cả đều do sợ và bạo động (sân tức là bạo động) mà ra. Cái sợ, cái tham và cái sân có sức tàn phá ghê gớm. Những chất độc đó do mình chế tác ra quá nhiều trong đời sống hàng ngày và sức mạnh của chất độc tâm lý đó tàn phá đời sống của mình còn nhiều hơn là chất độc hóa học.

Ví dụ như chuyện tham dâm, chứng bệnh AIDS được truyền qua con đường dâm dục với những người đồng tính và những người dị tính. Bệnh AIDS đó tiêu diệt hàng triệu người ở Châu Phi cũng như ở chỗ khác. Lưỡi hái của thần Chết AIDS kết liễu sinh mạng hàng triệu người và sức tàn phá của nó còn mạnh hơn sức tàn phá của trái bom nguyên tử. Chuyện không giữ giới thứ ba đã để cho con vi khuẩn đó được truyền đi một cách rất mau chóng qua đường dâm dục và làm cho hàng triệu người chết. Hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki giết chết khoảng 200.000 (hai trăm ngàn) người, còn bệnh AIDS đã giết hàng triệu người. Thành thử mình đừng nói chỉ có chất độc hóa học mới độc hại cho sự sống mà chất độc trong tâm cũng ghê gớm lắm. Tu là để nhận diện chất độc ở bên trong và tìm cách để chuyển hóa những chất độc đó.

Bài kệ này cho ta biết rằng mỗi khi có tâm hành tham dục phát khởi thì mình phải có khả năng nhận diện nó, tại vì nó có sức phá hoại rất lớn, nó tiêu diệt mình và những người chung quanh mình. Mình phải dùng phương tiện nào để có thể chuyển hóa nó ? Đức Thế Tôn dạy rất kỹ, nếu có niệm, định, tuệ thì mình có thể ngăn chặn và chuyển hóa được tâm hành tham. Khi khát nước mà thấy một ly nước màu hồng rất đẹp thì mình thấy thèm và rất muốn uống, nhưng người ta cảnh báo nếu uống nước này vào sẽ chết, nếu không chết thì cũng ngất ngư và vì khát quá cho nên mình muốn uống, nhưng nhờ có trí tuệ cho nên mình đã không uống, tại vì mình biết rằng uống vào sẽ chết. Khi một tâm hành bạo động, sân hận phát khởi, là một hành giả mình phải có khả năng nhận diện được nó: Thở vào tôi biết đây là năng lượng của bạo động, giận hờn, năng lượng này đang tàn phá tôi và đẩy tôi tàn phá người khác cho nên tôi phải tìm cách hóa giải nó.

Theo phương pháp là phải có tuệ, phải có từ bi, và hiểu. Mà hiểu được thì có thể thương được và khi có hiểu, có thương thì cơn giận kia tan biến. Là người tu, mình phải biết cách dùng tâm hành này để chuyển hóa tâm hành kia. Những tâm hành như niệm, định, tuệ, từ, bi, hỷ, xả mình có thể chế tác được và khi có những tâm hành đó rồi thì mình có thể chuyển hóa được tâm hành sân, si, mạn, nghi, kiêu, sợ hãi v.v…

Ngoài đời người ta lo đối trị với chất độc hóa học còn trong đạo, mình lo đối trị độc tố trong tâm. Mình phải gọi được tên của từng độc tố một, phải học cách để có thể nhận diện từng độc tố đó và biết cách trung hòa, hóa giải chúng. Vì đạo Bụt thấy rằng khổ và vui tương tức, hoa và rác tương tức. Nếu hoa và rác đều là chất hữu cơ thì hoa có thể trở thành rác và rác có thể trở thành hoa. Tâm hành cũng vậy, thương cũng có trở thành ghét. Ban đầu thương nhau quá, nhưng nếu không biết cách thương thì sau vài năm thương biến thành ghét. Cái thương và cái ghét cũng là chất hữu cơ cho nên cái thương trở thành cái ghét được thì cái ghét cũng có thể trở thành cái thương được. Nếu biết ủ phân, ủ rác cho khéo thì mình có chất bổ nuôi hoa, cho nên mình không sợ. Những chất liệu tham, sân, si không phải đào đất chôn kỹ như người ta nghĩ tới chuyện chôn CO2 mà có thể chuyển rác thành hoa được. Có niệm, có định, có tuệ thì có từ, có bi, có tha thứ, có bao dung. Có tuệ, có từ, có bi thì mình có thể chuyển hóa được tâm hành độc hại trong con người của mình và giúp chuyển hóa tâm hành đó cho xã hội. Đó là bổn phận của người tu.

Ở ngoài đời họ có phòng thí nghiệm nghiên cứu thế nào để chuyển hóa chất độc hóa học, còn mình ngồi trong thiền đường nghiên cứu làm sao để chuyển hóa được độc tố ở trong lòng tiết ra, đó là công việc của người hành giả. Khi năng lượng của tham biểu hiện và bốc cháy thì thân thể và tâm hồn của mình cũng bị thiêu đốt. Có ngọn lửa tham dục trong lòng thì mình không thấy an, không thấy lạc, không có hạnh phúc gì hết. Con người mà bị lửa tham đốt cháy thì rất là khổ. Người đó có thể làm bất cứ cái gì và có thể gây ra khổ đau cho những người chung quanh. Nhưng nếu người đó có tu hoặc có người khác chỉ cho phương pháp tu để người đó có trí tuệ, có từ bi thì tự nhiên ngọn lửa tham đó tắt đi. Khi ngọn lửa tham tắt đi thì ta cảm thấy mát mẻ thanh lương, giống như có cơn mưa vừa mới rơi xuống. Lúc đó mình có tâm hành gọi là vô tham, mà có tâm hành vô tham thì mình có an lạc, có hạnh phúc. Kỳ sau, khi ngọn lửa tham cháy lên thì mình phải làm thế nào để cho ngọn lửa đó được dập tắt.

Ngọn lửa tham bốc cháy, nếu không phải ngọn lửa tham của một người mà là ngọn lửa tham của một đám người thì nó cháy dữ dội lắm. Ngọn lửa sân cũng vậy, khi ngọn lửa sân hận cháy lên thì mình mất hết an lạc, mình muốn đập, muốn phá, muốn tiêu diệt thế giới. Dễ sợ lắm, nhất là khi ngọn lửa đó là ngọn lửa sân tập thể thì không gì có thể ngăn chặn được. Các nhà khoa học làm thế nào để đối phó với ngọn lửa sân tập thể? Chiến tranh là kết quả của tham và sân tập thể. Ngọn lửa sân cũng tạo ra tình trạng nóng bức như ngọn lửa tham và khi biết chế tác những giọt nước từ bi để tưới lên thì nó sẽ dịu xuống.

Trừ nhiệt nhão dĩ giai đắc thanh lương: Trừ sự nóng bức là được mát mẻ. Cho nên thường thường tượng đức Bồ Tát Quan Thế Âm tay trái cầm tịnh bình có nước của từ bi và tay phải cầm một nhành dương liễu, nhúng vào nước từ bi mà rải thì tất cả phiền não, nóng bức trở thành thanh lương.

Đầu cành dương liễu vương cam lộ
Một giọt mười phương rưới cũng đầy
Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây *

Đó là phép lạ của người tu, người tu phải có khả năng diệt trừ được ngọn lửa của tham dục, ngọn lửa của sân hận và si mê, những ngọn lửa đưa tới sợ hãi, lo lắng, tuyệt vọng. Tu phải có mục đích rõ ràng, mình phải học cách để khi nào ngọn lửa tham, ngọn lửa sân bốc lên thì mình phải biết cách xử lý. Ở ngoài đời, để đối phó với chất độc hóa học người ta mới nghiên cứu, thí nghiệm. Ở trong đạo cũng vậy, để đối phó với chất độc trong lòng thì mình cũng nghiên cứu, học hỏi và thực tập. Mình biết rằng hạnh phúc làm sao có được nếu mà lửa tham, lửa sân, lửa ganh tỵ, lửa sợ hãi tiếp tục bừng cháy. Trong bài kệ này mình học rằng: Biết xa lìa tham dục sân hận và si mê thì mình phải có khả năng nhận diện để có thể có một cái thấy chính xác về con đường chuyển hóa.

Năng tập thành đạo kiến: Mình phải có khả năng tự luyện tập cho quen để mỗi khi thấy cái tham, cái sân, cái si bốc lên thì nhìn sâu vào trong đó để nhận diện học hỏi và tìm thấy được phương pháp thoát ra. Mình có thể rèn luyện mình để thực hiện được sự đạo kiến, tức cái thấy về Tứ Đế và Bát Chánh Đạo. Trong nguyên văn bản kinh có arya, saccana, dassana. Dassana tức là phải nhìn và thấy được cho sâu ở trong đó. Arya là diệu tức màu nhiệm.  Saccana là đế, đế là sự thật. Có bốn sự thật mầu nhiệm là: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Đạo kiến này có nghĩa là thấy được Tứ Đế và Bát Chánh Đạo. Con đường Bát Chánh là con đường giúp cho mình đối phó, xử lý được những chất độc được chế tạo, được biểu hiện ra trong tâm thức của mình và trong tâm thức cộng đồng.

Người ta nói sức tàn phá của bom đạn, của chất hóa học mà người ta không nói một cách kỹ lưỡng tới sức tàn phá của tâm hành, như tham đắm, giận hờn, ganh tỵ, si mê, nó có tác dụng phá hoại rất là lớn. Bây giờ bệnh AIDS đã tàn phá hàng triệu người, hàng triệu người đang chết từ từ, tại vì họ không thực tập giới thứ ba. Có những em bé mới sinh ra đã mang căn bệnh đó rồi, đây là tai họa rất lớn. Mình dịch lại cho sát với nguyên văn hơn:

Biết xa lìa tham dục
Biết nhận diện và xử lý sân hận và si mê mỗi khi chúng phát khởi
Để tập luyện mà có được cái thấy chính xác về Bát Chánh Đạo
Đó là điềm lành lớn nhất

Ở trong Bát Chánh Đạo có:

– Chánh kiến: là thấy đúng, cái thấy tương tức, cái thấy không kỳ thị
– Chánh tư duy: tư duy đi theo chiều hướng của hiểu và của thương
– Chánh ngữ: lời nói đi theo chiều hướng của hiểu và thương
– Chánh nghiệp: hành động cũng đi theo chiều hướng hiểu và thương.
– Chánh tinh tấn: bỏ công phu ra tu tập, luyện cho mình có được một cái thấy chính xác.
– Chánh mạng: có nghề nghiệp, có phương tiện sinh sống mà nó không đi trái với chánh kiến. Nghề nghiệp của mình không đem lại sự tàn hại cho con người, cho những loài khác và cho môi trường của sự sống
– Chánh niệm: ý thức được những gì đang xảy ra trong mình và xung quanh mình
– Chánh định: duy trì được cái thấy chính xác

Nhưng tất cả đều được soi sáng bởi chánh kiến. Tập thành đạo kiến là luyện tập như thế nào để thấy được con đường Bát Chánh Đạo. Chánh kiến tức là tuệ, là hoa trái của sự thực tập. Mình ngồi thiền, mình tu tập để đạt tới cái thấy chính xác, đó gọi là chánh kiến, là trí tuệ, là bát nhã. Cái thấy đó là cái thấy không kỳ thị, không lưỡng nguyên, một khi có cái thấy đó thì không còn tham đắm, giận hờn, ganh tỵ nữa. Cái đó gọi là Bát Nhã Ba La Mật, tức là trí tuệ đưa tới bờ bên kia.

Có chánh kiến rồi sẽ có chánh tư duy. Tư duy trên căn bản chánh kiến thì tư duy này cũng không kỳ thị, không lưỡng nguyên, tư duy theo tuệ giác tương tức. Tư duy như vậy thì sẽ không còn tham, sân, si. Có chánh kiến sẽ có chánh ngữ: lời nói này tạo ra sự hòa hợp mà không gây chia rẽ. Có chánh kiến rồi sẽ có chánh nghiệp: hành động của mình mang tính cách che chở, bảo hộ, cứu trợ, nó không tàn sát, kỳ thị nữa. Có chánh kiến thì mới có chánh tinh tấn, chánh mạng. Có chánh kiến thì mới có chánh niệm và chánh định. Tóm lại chánh kiến đưa tới bảy cái chánh kia.

Niệm, định càng hùng hậu thì tuệ giác càng lớn. Vì vậy cho nên chúng ta biết rằng trái tim của sự thực tập đạo Bụt là tam vô lậu học, tức là niệm, định, tuệ. Niệm, định, tuệ là tam học (the three kinds of trainings). Chánh niệm hùng hậu thì có chánh định. Chánh niệm và chánh định hùng hậu thì có chánh kiến, tức là tuệ giác, tức là có cái thấy rất là sáng rõ. Có cái thấy sáng rồi thì tư duy cũng đúng, nói năng cũng đúng và hành động cũng đúng, càng sáng thì làm càng đúng. Vì vậy cho nên trái tim của sự thực tập đạo Bụt là niệm (smrti), định (samadhi), tuệ (prajna).

Đặt vấn đề là làm sao giải quyết được vấn nạn của xã hội, của gia đình, của trái đất thì câu trả lời là phải sử dụng Bát Chánh Đạo và phải sử dụng Bát Chánh Đạo một cách thông minh, có phương pháp thì tự nhiên ta đối phó được với những chất độc tiết ra từ trong tâm của mình. Trước hết là sự thèm khát, mình phải đối trị được với thèm khát. Thứ đến là sự giận hờn, si mê, bạo động, nó đốt cháy thế gian, nó đốt cháy con người của mình do đó mình phải có trí tuệ, phải có từ bi để xử lý nó. Làm sao có từ bi nếu không có trí tuệ? Tất cả đều nằm ở chỗ này: năng tập thành đạo kiến, làm thế nào luyện tập, để có cái thấy về Tứ Diệu Đế, về Bát Chánh Đạo?

Bài kệ 14:
Nhược dĩ khí phi vụ     若 以 棄 非 務
Năng cần tu đạo dụng     能 勤 修 道 用
Thường sự ư khả sự     常 事 於 可 事
Thị vi tối cát tường     是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa
Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hằng ngày
Biết theo đuổi một lý tưởng đáng được theo đuổi
Đó là điềm lành lớn nhất

Nhược dĩ khí phi vụ: Phi vụ tức là những nghiệp vụ không chánh đáng. Những cái gì gây ra tai hại cho con người và thiên nhiên thì dù nó đem lại lợi tức nhiều cũng phải bỏ. Cái gì đem danh, đem lợi nhiều, nhưng nó tàn hại con người và thiên nhiên đều phải bỏ hết. Chữ vụ ở đây nghĩa là nghiệp vụ. Phi vụ là nghiệp vụ phi nghĩa.

Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa

Có ông làm một nghề giàu rất mau, mỗi năm thu lợi hàng triệu, hàng tỉ EU. Ông ta cũng biết rằng những sản phẩm mà hãng của ông sản xuất ra nó đầu độc con người, đầu độc trẻ em và đầu độc người lớn. Nhưng vì lợi nhuận của nó lớn quá nên ông ta không buông bỏ được. Ví dụ như ngành sản xuất súng đạn, bán rất chạy, tại vì thiên hạ cần mua súng đạn. Nước Mỹ, Pháp và Anh đều có những xưởng chế tạo vũ khí rất lớn và tiền chảy vào đó rất nhiều, nó cũng cung cấp công ăn việc làm cho nhiều người. Vì vậy cho nên nước Mỹ, Pháp, Anh không bỏ được nghiệp vụ sản xuất súng đạn, cái đó gọi là nghiệp vụ phi nghĩa. Trong khi những em bé ở các nước nghèo đói, nó chìa bàn tay ra với cái bát mẻ của nó một, hai, ba giờ đồng hồ rồi mà không có được một miếng bánh mì hoặc một miếng cơm. Đáng lý ra phải lấy tiền mua cơm cho nó thì mình lại lấy tiền đó đi mua súng đạn trong khi cái mà nó cần là cơm chứ không phải súng đạn.

Nếu dân chúng không biết những gì xảy ra (tức là không có niệm) và cứ để cho chính quyền tiếp tục làm như vậy thì phải biết rằng mình đang xây dựng nền kinh tế của mình bằng những nghiệp vụ phi nghĩa. Khi có đủ niệm, định rồi thì sẽ có tuệ. Có tuệ rồi thì mình có đủ sức mạnh để có thể ngưng lại những nghiệp vụ phi nghĩa. Mình phải trình bày sự thật, phải làm cho mọi người thấy được sự thật. Phải có cái thấy đó rồi mới mong có sự thay đổi, nếu không thì tình trạng sẽ vẫn tiếp tục diễn ra.

Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hàng ngày.

Năng cần tu đạo dụng: Giáo pháp mà mình học hỏi phải làm thế nào để áp dụng được trong đời sống hàng ngày, đó là đạo dụng. Còn mình chỉ nói lý thuyết mà không áp dụng được thì không ích lợi gì, cho nên mình mới sử dụng danh từ Đạo Phật Ứng Dụng. Làm sao ứng dụng được? Ứng dụng đạo Phật như thế nào để có thể chuyển hóa được, dập tắt được những ngọn lửa tham, ngọn lửa sân, ngọn lửa sợ hãi, nghi ngờ ở trong lòng người? Phải cụ thể lắm mới được. Bắt đầu bằng chánh niệm để thấy được, nhận diện được những khổ đau đang có mặt, rồi nhìn vào trong bản chất những khổ đau để tìm ra gốc rễ, lúc đó mình mới có thể thấy được con đường đạo kiến (tập thành đạo kiến). Thấy được con đường đạo kiến mình mới có thể áp dụng được đạo Phật vào trong đời sống hàng ngày.

Những nhà chính trị, những nhà doanh nghiệp có những khổ đau, khó khăn của họ và mình phải nhận diện những khó khăn, khổ đau của họ trước khi mình hiến tặng cho họ những phương pháp để họ có thể tu tập, chuyển hóa.

Tôi nhớ lần đầu tiên mở khóa tu cho giới doanh nghiệp ở Làng Mai, tôi phải học hỏi rất nhiều. Tôi phải viết thư, phải cầu cứu với các bạn hữu, với các Phật tử xin họ nói cho tôi biết nhiều hơn về những khổ đau, những khó khăn của các nhà doanh nghiệp. Các bạn đã gửi tới cho tôi rất nhiều bài về những thành công, những thất bại, những lo lắng, những khổ đau của giới nhà giàu, giới doanh thương và tôi đã nghiên cứu những tài liệu ấy rất kỹ. Do đó, đến khóa tu tôi mới đưa ra được những phương pháp để họ có thể ứng dụng vào đời sống hàng ngày. Sau đó có những nhà doanh nghiệp viết thư cho tôi nói rằng: “Thầy ơi, khóa tu dành cho giới doanh thương đã giúp chúng tôi rất nhiều. Lần đầu tiên chúng tôi có cơ hội nhìn lại cuộc đời của mình, nhìn lại những đau khổ, những vấn đề của chúng tôi, lần đầu tiên chúng tôi thấy có ánh sáng. Khóa tu chấm dứt ba bốn tháng rồi nhưng chúng tôi tiếp tục có thêm tuệ giác. Tuệ giác tới hàng ngày nhờ khóa tu đó, bây giờ chúng tôi thấy rõ hơn con đường mà mình phải đi và những phương pháp để đối trị với những khổ đau, những khó khăn trong đời sống hàng ngày”.

Sau khóa tu có nhiều nhà doanh nghiệp đã viết thư báo cáo như vậy và những bài pháp thoại trong khóa tu đã được đánh máy và in thành một cuốn sách bán rất chạy tại Mỹ và Hàn Quốc đó là cuốn Power, bản tiếng Việt của cuốn sách đó có tựa là Quyền Lực Đích Thực. Cuốn sách Power cũng như khóa tu đó là Đạo Phật Ứng Dụng cho những nhà doanh thương, những nhà chính trị. Hiện tại cuốn sách đó được lưu hành rộng rãi trong rất nhiều nước.

Bây giờ ở Việt Nam cuốn sách bán chạy nhất của tôi là cuốn Giận. Hình như bên đó người ta đang giận hơi nhiều, tại vì khổ nhiều quá, giận nhiều quá cho nên mới mua cuốn sách Giận của tôi để đọc cho bớt giận. Vì vậy cuốn sách đó bán chạy không phải là tin mừng đâu. Cuốn Giận (Anger) cũng bán rất chạy ở bên Mỹ. Cuốn Anger xuất hiện bên Mỹ rất đúng lúc, nó xuất hiện vào thời điểm 11.9.2001.  Còn bên Hàn Quốc chỉ trong vòng một năm mà bán trên một triệu cuốn. Trong cuốn Giận có những phương pháp thực tập giúp đối trị với ngọn lửa giận đang phừng phực bốc cháy, đó là Đạo Phật Ứng Dụng.

Chúng tôi cũng đã tổ chức khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu. Khóa tu đầu tiên được tổ chức ở Colorado và sau đó chúng tôi còn tổ chức nhiều khóa tu nữa. Những gì mà đức Thế Tôn dạy về tâm, về phương pháp điều phục tâm, đã được đem ra chia sẻ với các nhà tâm lý trị liệu. Chư tổ nói rằng nếu mình biết được sự vận hành của tâm như thế nào thì sự thực tập sẽ dễ dàng hơn. Vì vậy cho nên tôi có viết cuốn sách The Mind of Transformation, Understanding Our Mind, đó cũng thuộc về phạm vi Đạo Phật Ứng Dụng trong lĩnh vực tâm lý trị liệu.

Chúng tôi cũng đã có những khóa tu cho giới công an, cảnh sát và những người cai tù ở thành phố Madison (Wiscosin, USA). Tôi nhớ là trước khi mở khóa tu, tôi phải học nhiều lắm, phải học về những khó khăn, khổ đau của giới công an, cảnh sát, của giới nhà tù và tìm ra những sự thật rất đau lòng là: Mỗi năm ở bên Mỹ có khoảng 300 người cảnh sát tự tử bằng súng của chính mình, họ lấy súng của chính họ để tự sát. Mới nhìn vào mình tưởng ông cảnh sát oai lắm, có quyền hành ai cũng sợ, nhưng kỳ thực ông không có quyền gì hết, những quyền đó ông không sử dụng được cho chính ông và rốt cuộc ông bất lực, ông phải tự tử bằng súng của mình. Trước khi mở khóa tu cho cảnh sát, tôi cũng phải tìm hiểu nhiều lắm, tôi phải thấy được những khó khăn, bức xúc, tuyệt vọng khổ đau của họ thì tôi mới có thể trình bày Bát Chánh Đạo như thế nào để phù hợp với họ mới giúp cho họ được. Tôi rất cảm động khi thấy những chú cảnh sát Hoa Kỳ to lớn như vậy mà đi từng bước thiền hành, chậm rãi, thở ra, thở vào những hơi thật dài, đối với họ chuyện này rất là khó, nhưng một hồi rồi cũng làm được như thường. Tôi có một vị đệ tử là giáo thọ cư sĩ tên là Cheri Maples, ngày xưa cô cũng làm sĩ quan trong giới cảnh sát và trong gần hai mươi năm thực tập theo Làng Mai thì Cheri Maples đã áp dụng phương pháp Bát Chánh Đạo để huấn luyện cảnh sát và đã đạt được nhiều kết quả rất tốt. Đó là Đạo Phật Ứng Dụng.

Chúng tôi có những khóa tu cho giới giáo chức, giúp cho thầy giáo, cô giáo có hạnh phúc hơn khi giảng dạy cho học trò. Tại vì thầy cô giáo cũng có rất nhiều khó khăn và học trò của họ cũng có rất nhiều khó khăn. Tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, chúng tôi dự tính sẽ mở những khóa tu cho các bậc làm cha mẹ đang có khó khăn với con cái, cho những người trẻ đang có khó khăn với bố mẹ hay cho những người vừa khám phá ra mình bị bệnh nan y, cho những người vừa mới mất người thân, tất cả những khóa tu đó đều thuộc về phạm vi của Đạo Phật Ứng Dụng. Chúng tôi sắp có khóa tu cho những người trẻ chuẩn bị thành hôn, giúp họ chuẩn bị trước những phương pháp thực tập để đừng rơi vào những lỗi lầm sau khi thành hôn rồi hối không kịp. Đó là những cố gắng của chúng tôi trong thế kỷ 21, đem Đạo Bụt Ứng Dụng vào trong đời sống hàng ngày, gọi là Đạo Phật Ứng Dụng, tiếng Anh gọi là Applied Buddhism. Bây giờ cơ sở của Viện Phật Học Ứng Dụng nằm ở bên Đức và các trung tâm khác như là Làng Mai, Lộc Uyển hay Bích Nham… đều trở thành phân viện của Viện Phật Học Ứng Dụng. Sau này nếu mình có Bát Nhã mới thì Bát Nhã cũng trở thành phân viện của Viện Phật Học Ứng Dụng. Đạo Phật phải ứng dụng được thì mới có ích lợi, chứ học lý thuyết suông sẽ không đưa tới đâu.

Thường sự ư khá sự: Sự ở đây có người dịch là thờ. Thờ ông bà, cha mẹ hay thờ chồng. Sự có nghĩa là phụng sự, ở đây tôi dịch là lý tưởng phụng sự.

Biết theo đuổi lý tưởng đáng được đeo đuổi

Cái gì mà mình cho là cao đẹp nhất và đáng để cho mình đầu tư tất cả con người của mình vào thì mình mới làm, chứ không phải ai mời gì cũng làm. Tham gia chuyện này, tham gia chuyện kia, rốt cuộc chẳng làm được gì hết. Phải chuyên tâm vào một cái mà mình cho là cao đẹp nhất để không mất thì giờ của mình.

Bài kệ thứ 15
Nhất thiết vi thiên hạ    一 切 為 天 下
Kiến lập đại từ ý    建 立 大 慈 意
Tu nhân an chúng sinh    修 人 安 眾 生
Thị vi tối cát tường     是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Vì tất cả nhân loại
Vun bón tâm đại từ
Nuôi dưỡng tình thương để đem lại an bình cho thế gian
Đó là điềm lành lớn nhất

Nhất thiết vi thiên hạ: Thiên hạ là nhân loại. Vì thiên hạ kiến lập đại từ ý. Đại từ là maha maitri, maha karuna. Mình là người Phật tử, mình là học trò của Bụt, là sự nối tiếp của Đức Thế Tôn thì mình phải làm phát khởi tình thương lớn. Phải có tình thương lớn và tình thương lớn đó để cho tất cả nhân loại.

Kiến lập đại từ ý: Dồn hết tất cả năng lượng vì thiên hạ (humanity) mà kiến lập một chí nguyện lớn (đại từ ý).

Vì tất cả nhân loại
Vun bón tâm đại từ

Mình có thể dịch là phải làm phát khởi tâm đại từ để phục vụ cho toàn thể nhân loại. Vì nhân loại phát khởi tâm đại từ (the mind of love) mà mình hay nói là bồ đề tâm. Bồ đề tâm tức là tâm giác ngộ (the mind of enlightenment). Trí tuệ đi đôi với tình thương, hễ có trí tuệ là có tình thương lớn, vì vậy cho nên tâm đại từ tức cũng là tâm đại trí và tâm đại từ ở đây cũng là bồ đề tâm. Phải phát khởi tâm bồ đề, phát khởi lý tưởng đại từ, đại bi để tiếp nối đức Thế Tôn. Đại từ ý là bồ đề tâm, là đại bi tâm.

Tu nhân an chúng sanh: Trong bản in Đại Tạng đời Tống, đời Minh thì chữ nhân là nhân từ và vì vậy có nhiều thầy dịch là nuôi dưỡng tình thương. Bây giờ theo tôi nghĩ thì mình dùng chữ nhân là người, nuôi dưỡng con người, tại vì nếu con người mà thành công được thì những loài khác trên thế gian sẽ được hưởng. Thành ra thay vì dùng chữ nhân là nhân từ thì mình dùng chữ nhân là người ở trong bản Đại Chánh Tân Tu này, tức là phải xây dựng con người. Con người bị tàn phá hơi nhiều thành ra phải chỉnh lý con người lại, trồng người, dựng người, phục hồi lại con người tốt đẹp. Con người bây giờ bị thương tích, bị phá sản hơi nhiều cho nên không đóng được vai trò người anh của các loài. Con người đã tàn phá trái đất và làm cho tất cả các loài khác bị đau khổ, vì vậy phải tu bổ lại con người.

Chữ tu nhân ở đây, tôi muốn dịch là tu bổ lại con người, chứ không phải là tu tập lòng từ bi, tại vì từ bi đã nói trước rồi cho nên mình không cần phải lập lại nữa. Tu nhân tức là tu bổ lại con người để cho thế giới, cho các loài khác có một cơ hội. Những loài voi, cọp, sư tử, gấu, tôm, cá, khỉ, chim, tất cả các loài cầm thú, cỏ cây, đất đá sẽ được hưởng nếu con người được tu bổ lại. Thành ra tôi muốn giữ lại chữ nhân này, mình dịch là:

Tu bổ con người để con người có khả năng đem lại an bình cho các loài khác trên thế gian
Đó là điềm lành lớn nhất

Dịch như vậy thì lời kinh sẽ đẹp, sẽ sâu hơn. Lý tưởng của mình là phát tâm bồ đề, phát lời nguyện lớn, tình thương lớn. Việc làm trước nhất là tu bổ con người, điều này cũng phù hợp với đạo lý Đông phương ngày xưa: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Phải tu bổ lại con người, phải xây dựng lại con người thì thế giới mới có một cơ hội. Vì vậy cho nên mình có thể nói đạo Phật có một nền nhân bản rất là vững mà con người là căn bản. Như tổ Lâm Tế của chúng ta nói: Con người là quan trọng nhất! Không phải Phật, Thánh là quan trọng, không phải Thiên Thần, không phải Tam thiên đại thiên thế giới, thiên đường, địa ngục là quan trọng mà chính con người là quan trọng nhất. Thành ra chủ nghĩa nhân bản rất là lớn, rất là vững mạnh và ý này càng rõ hơn trong bài kệ chót.

Bài kệ 16
Trí giả cư thế gian  智 者 居 世 間
Thường tập cát tường hạnh   常 習 吉 祥 行
Tự trí thành tuệ kiến 自 致 成 慧 見
Thị vị tối cát tường  是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Là bậc trí giả ở trong cuộc đời
Thường tập hạnh tạo tác những điềm lành
Cho đến khi chính mình thành tựu được tuệ giác lớn
Đó là điềm lành lớn nhất

Trí giả cư thế gian: Trí giả là bậc có trí tuệ, mà mình tu là để có trí tuệ. Những người có trí tuệ trong khi ở trong cuộc đời thì phải biết chế tác ra những điềm lành, chứ không phải đợi điềm lành từ bên ngoài tới. Câu này là câu trả lời trực tiếp của Bụt đối với những người phạm chí tới hỏi. Thường thường họ nói điềm lành là ở trên trời có mây ngũ sắc hay có gì xuất hiện như con chim phượng hoàng, con rùa lâu năm. Nhưng mà những cái đó từ bên ngoài tới, còn chủ ý của Bụt thì những điềm lành phải từ ở bên trong đưa ra.

Thường tập cát tường hạnh: Bậc trí giả sống trong thế gian đừng chờ điềm lành từ bên ngoài đi tới mà phải tự chế tác ra điềm lành và tất cả những bài kệ này đều là để mình tự chế ra điềm lành.

Là bậc trí giả ở trong cuộc đời thường tự tập hạnh tạo tác những điềm lành cho tới khi mình thành tựu được tuệ giác lớn.

Tự trí thành tuệ kiến: Tức là thành Phật, đây là điềm lành lớn nhất.

Sau khi vị Phạm chí và các đệ tử được nghe những lời Bụt dạy họ rất hoan hỷ và nói rằng: “Bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn là một bậc hiếm có, xin cho chúng con được quy y và làm đệ tử của Ngài”. Bụt nói được và tất cả những người đó đều trở thành đệ tử của Bụt.

* Thơ Sư Ông Làng Mai

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …