Home / Giảng Luận / Pháp đường – Pháp thoại phiên tả: Giảng Kinh “Chiếc Lưới Ái Ân” – Phần IV

Pháp đường – Pháp thoại phiên tả: Giảng Kinh “Chiếc Lưới Ái Ân” – Phần IV

Bài kệ 21
Vi lão tử sở tứ                                 為  老  死  所  伺
Nhược độc cầu mẫu nhũ               若  犢  求  母  乳
Ly dục diệt ái tích                           離  欲  滅  愛  迹
Xuất võng vô sở tệ                         出  網  無  所  弊

Bị cái già và cái chết bắt theo và lẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại mình nữa.

Vi lão tử sở tứ: Vi là bị. Tứ có nghĩa là hầu hạ, là đi theo không rời. Bị cái già và cái chết thăm hỏi, đi theo sát nút.

Nhược độc cầu mẫu nhũ: Nhược là giống như. Độc là con bê (con bò con). Cầu là đi tìm. Mẫu nhũ là sữa mẹ. Khi bị lọt vào lưới ái ân rồi thì mình đi quanh quẩn xung quanh đối tượng giống như một con bê đi tìm vú mẹ, không thể đi xa được.

Ly dục diệt ái tích: Khi thoát ly được ái dục và xóa được vết tích của nó (diệt ái tích).

Xuất võng vô sở tệ: Xuất võng là ra khỏi lưới, Tệ là tệ hại, là hệ lụy. Vô sở tệ là không có gì làm mình hệ lụy, không có gì che lấp được mình nữa.

Các bài kệ 20 và 21 có thể được xem như là trung tâm điểm của kinh. Cụm từ  “chiếc lưới ái ân” được lấy ra từ bài kệ thứ 20 để làm tên kinh. Chúng ta có thể gọi kinh này là Ái Võng Kinh 愛 網 經, kinh Chiếc Lưới Ái Ân (The net of love sutra). Khi mình đã lấy cái lưới tham dục tự quấn mình, đã lấy chiếc ô ái ân tự che mình rồi, thì mình buông lung và tự đưa mình vào tù ngục như con cá đi vào miệng chiếc nơm. Khi bị lọt vào lưới ái ân rồi, mình bị cái già và cái chết dõi theo như con bê đi tìm cầu sữa mẹ, không cách gì thoát ra được. Đây là những hình ảnh rất hay, đầy chất thi ca! Thi ca được làm bằng hai yếu tố: hình ảnh và âm điệu. Kinh kệ cũng vậy, cũng là thi ca, bởi vì trong đó có rất nhiều hình ảnh và âm điệu tuyệt vời. Theo dõi kinh chúng ta thấy khi nói về ái dục, Bụt đã đưa ra rất nhiều hình ảnh sinh động và thực tế, nào là cái cây, con vượn, dây leo, dòng nước lũ, con bê tìm vú mẹ, con cá chui vào nơm v.v… Và chúng ta đã chọn hình ảnh chiếc lưới đại diện cho các hình ảnh ấy để làm tên kinh.

Chỉ khi nào lìa xa được ái dục, xóa hết những vết tích của nó thì khi đó mình mới thực sự ra khỏi được cái lưới, không còn bị bất cứ một cái gì gây hệ lụy và làm hại được nữa.

Mình là chàng dũng sĩ, là người có chí nguyện thực tập, mình phải dũng mãnh dang tay xé toạc lưới ái ân. Mỗi vị xuất sĩ và mỗi vị cư sĩ nên viết một chứng từ thuật lại kinh nghiệm của mình về ái ân, viết cho thật, thì tự nhiên sẽ hay. Chúng ta hãy đọc lại bản dịch:

Tự cuốn lấy mình trong chiếc lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm.

Bị cái già và cái chết bắt theo và lẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại mình nữa.

Bài kệ 22
Tận đạo trừ ngục phược                盡  道  除  獄  縛
Nhất thiết thử bỉ giải                      一  切  此  彼  解
Dĩ đắc độ biên hành                       已  得  度  邊  行
Thị vi đại trí sĩ                                 是  為  大  智  士

Đi trọn được con đường, cởi bỏ được mọi ràng buộc hệ lụy, giải phóng được mọi phân biệt kỳ thị, vượt qua được các ý niệm lưỡng nguyên, đó mới thật là bậc xuất sĩ đại trí.

Tận đạo trừ ngục phược: Đạo là con đường. Tận đạo là đi cho hết con đường, không bỏ dở nửa chừng. Trừ ngục phược là cắt đứt, diệt trừ những sợi dây ràng buộc vào chốn ngục tù.

Nhất thiết thử bỉ giải: Thử là cái này, bỉ là cái kia, chỉ cho sự phân biệt kỳ thị (discrimination), cái này không phải là cái kia, cái kia không phải là cái này. Giải là thấu suốt và cũng có nghĩa là cởi trói.  Hiểu thấu và cởi trói tất cả mọi ý niệm phân biệt, kỳ thị.

Dĩ đắc độ biên hành: Độ là vượt thoát, biên là một bên, biên hành là vướng mắc vào một bên. Vượt thoát sự vướng mắc vào một bên.

Thị vi đại trí sĩ: Đó mới thật là bậc đại sĩ có trí tuệ lớn.

Chân lý là cái này nằm trong cái kia, không thể lấy cái này ra khỏi cái kia. Trái và phải dường như đối lập nhau, nhưng nếu không có trái thì không có phải và không có phải thì không có trái. Cha và con cũng vậy, nếu không có cha thì không có con và không có con thì không có cha. Người đàn ông đó nếu không có đứa con thì ông ta không thể được gọi là cha và đứa con cũng vậy, cũng nhờ có cha mà nó được gọi là con. Cha và con không thể tách rời nhau được. Nếu thấy được như vậy tức là ta đã có thể  Nhất thiết bỉ thử giải, hiểu được và cởi trói cho tất cả mọi sự phân biệt, kỳ thị.

Nếu bị kẹt vào những quan niệm như “cái này không phải là cái kia”, “cha và con là hai cái khác nhau”, “vật thể và tâm thức là hai cái khác nhau”, “sinh-tử là hai cái khác nhau”, “có-không là hai cái khác nhau” thì đó là bị vướng vào cái thấy lưỡng nguyên (dualistic view), vướng vào biên hành. Trong truyền thống Cơ Đốc giáo, chúng ta quan niệm rằng có một Thượng đế tạo ra thế giới và có thế giới này là do Thượng đế tạo ra, Thượng đế và thế giới là hai cái khác nhau. Đó là một cách nhìn lưỡng nguyên. Chúng ta hãy thử đặt lại một câu hỏi là nếu không có tạo vật thì làm sao có thứ gọi là tạo hóa? Trả lời được câu hỏi đó rồi thì ta còn có thể thấy Đấng Sáng Tạo và vật được sáng tạo là hai thực tại đứng ngoài nhau không?

Con đường của đạo Bụt là con đường Trung Đạo (The Middle Way), không vướng vào bờ nào và vượt thoát mọi ý niệm phân biệt. Cũng như một khúc gỗ trôi trên một dòng sông, khúc gỗ đó muốn đi tiếp để trôi ra biển, nó phải không bị vướng vào một trong hai bờ, nó phải đi con đường Trung Đạo; bằng không, nó sẽ không bao giờ ra biển được.

Khoa học bây giờ cũng bắt đầu thấy được những gì đức Thế Tôn đã khám phá từ rất lâu. Họ đã nhận ra rằng tâm thức quán sát và thế giới được quán sát dính chặt vào nhau, không thể tách riêng ra được. Khi lấy tâm quán sát một đối tượng thì đối tượng đó bị thay đổi bởi sự quán sát kia. Khi một lượng tử (quantum) không bị quán sát, nó rất tự do, nó có mặt khắp nơi; nhưng khi mình quán sát nó, nó bắt đầu có vị trí trong không gian và thời gian. Vì vậy, các nhà khoa học đã bắt đầu đi tới kết luận là đối tượng quán sát và tâm thức quán sát không phải là hai cái riêng biệt tách rời nhau. Các nhà khoa học bây giờ đang vùng vẫy trong cái lưới nhị nguyên.

Chúng ta may mắn được là học trò của Bụt, vì vậy chúng ta phải tinh chuyên đi con đường của Bụt để trở thành một con người tự do, một bậc đại sĩ có trí tuệ lớn. Muốn được như vậy, mình phải làm ba điều:

  1. Phải cởi được sợi dây ái dục để đi trọn vẹn con đường.
  2. Không kỳ thị “cái này” và “cái kia”.
  3. Không bị vướng vào cái nhìn lưỡng nguyên.

Bài kệ thứ 22 rất là sâu, nó là hạt giống của giáo lý Trung Đạo sau này. Chúng ta có Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, những bộ luận lớn đó được đặt nền móng trên những câu kinh này. Những tư tưởng vĩ đại của Đại Thừa không phải là những cái gì mới, mà đã có sẵn trong đạo Bụt nguyên thỉ. Bài kệ thứ 22 đủ để chứng minh cho điều đó.

Bài kệ 23
Vật thân viễn pháp nhân              勿  親  遠  法  人
Diệc vật vi ái nhiễm                       亦 勿  為  愛   染
Bất đoạn tam thế giả                      不  斷  三  世  者
Hội phục đọa biên hành                會  復  墮  邊  行

Đừng thân cận với những kẻ đi ngược chánh pháp, cũng đừng để bị lôi kéo theo con đường ái nhiễm. Nếu chưa vượt thoát được thời gian thì hành giả vẫn còn bị kẹt vào cái thấy nhị nguyên.

Vật thân viễn pháp nhân: Vật là đừng, là không nên. Thân là gần gũi, kết bạn. Viễn pháp nhân là những người đang đi ngược với chánh pháp. Đừng gần gũi với những người đi ngược với chánh pháp, tức là những người đang có đam mê, vướng mắc và cứng đầu, không chịu nghe lời nhắc nhở của những bạn đồng tu.

Diệc vật vi ái nhiễm: Diệc là cũng. Nhiễm là dính vào (infected). Ái là ái dục. Câu này nghĩa là cũng đừng dính vào ái dục.

Bất đoạn tam thế giả: Tam thế là quá khứ, hiện tại và vị lai, ý chỉ cho ý niệm thời gian. Nếu chưa vượt thoát được ý  niệm về thời gian thì…

Hội phục đọa biên hành: vẫn còn bị rơi vào cái nhìn lưỡng nguyên. Đọa là rơi xuống.

Vật thân viễn pháp nhân

Diệc vật vi ái nhiễm

Ta không nên thân cận với những người đi ngược với chánh pháp, bởi vì nếu gần họ, ta sẽ bị ảnh hưởng, sẽ bị kéo theo. Người đó có thể nói những câu khiến cho mình thoái thất Bồ đề tâm để họ có thêm đồng minh đi với họ trên con đường họ muốn. Ta chỉ nên thân cận với những người thực tập giới luật và uy nghi vững chãi, có niềm vui trong sự tu học. Trong đại chúng, có thể có một hay hai người “viễn pháp nhân”, mình phải tìm cách giúp họ. Nếu mình quá yếu không giúp được, mình phải xa lìa người đó và nhờ đại chúng giúp cho họ.

Bất đoạn tam thế giả

Hội phục đọa biên hành

Chúng ta sống trong thế kỷ thứ 21, thế kỷ mà trong khi các nhà khoa học còn đang tìm hiểu về những hiện tượng bên ngoài như khoa học lượng tử hay khoa thiên văn học, thì đồng thời họ cũng muốn gõ cửa, muốn chạm tới cái gọi là chân lý tối hậu (the ultimate), tức là bản môn. Khoa học muốn biết nguồn gốc của thực tại, của sự sống. Khoa thiên văn học và khoa vật lý học cũng muốn đi tìm cái nguyên thủy của thực tại. Các nhà khoa học đang gõ cửa bản thể học (the door of ontology, the door of metaphysics). Nhà khoa học đang nói: “Vừng ơi, mở ra! Sésame, ouvre toi!”

Các nhà thiên văn học đã nói tới hiện tượng “Big Bang”, tức là cái nguyên thủy của vũ trụ. Theo cái thấy của họ, thuở ban đầu chưa có vũ trụ, chỉ có một điểm rất nhỏ. Trong khi quán sát vũ trụ, nhà thiên văn học thấy các tinh hà mỗi ngày mỗi rời xa nhau với tốc độ rất lớn và vũ trụ đang phình ra (expansion). Họ đã đồng ý với nhau là thời gian và không gian bắt đầu có từ giây phút gọi là “Big Bang”, còn trước đó không có không gian và thời gian. Các nhà thiên văn học nói rằng trước khi có vũ trụ thì chưa có thời gian và không gian.

Các nhà khoa học lượng tử, khi đi vào trong “cái vô cùng nhỏ” thì thấy rằng quan niệm về thời gian của chúng ta không còn chính xác nữa. Trong thế giới hàng ngày, thời gian là một mũi tên đi về một hướng, nhưng khi đi vào thế giới lượng tử thì họ thấy các lượng tử có thể đi ngược lại. Các nhà khoa học bắt đầu thấy rằng một lượng tử không chỉ có mặt ở một chỗ mà nó có thể có mặt khắp nơi và họ bắt đầu thấy được, hình như thời gian và không gian là những sáng tạo của tâm thức.

Cả khoa học vĩ mô (tức khoa thiên văn học) và khoa học vi mô (tức khoa lượng tử học) đều công nhận rằng tâm của chúng ta tạo ra thời gian và không gian. Thời gian và không gian là do vật thể và tốc độ mà có. Nếu không có vật thể và tốc độ thì không có khái niệm về thời gian và không gian, vì thời gian và không gian là tương tức (inter-being).

Nếu các nhà khoa học không buông bỏ được ý niệm về thời gian và không gian, họ vẫn bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên. Họ đòi hỏi phải có cái bắt đầu, nên mới đi tìm cái gọi là “Big Bang”. Và vì có “cái đầu” nên sẽ có “cái đuôi”, một ngày nào đó sẽ có cái gọi là “Big Crunch”. Các nhà khoa học có thể bị kẹt vào khái niệm thời gian là một cái gì có thật như một thực tại ở ngoài, cho nên họ đòi hỏi phải có một bắt đầu và một chung cục. Ngược lại, với cái nhìn của đạo Bụt, chúng ta thấy rằng không có cái gì là “cái đầu” và cũng không có cái gì là “cái đuôi” (vô thủy vô chung) và ý niệm về “bắt đầu” và “chung cục” chỉ là những ý niệm được sáng tạo bởi tâm thức con người.

Theo đạo Bụt, cánh cửa bí mật mà các nhà khoa học đang cố công tìm vào đã được mở từ lâu rồi (the door is already opened). Thực ra, nó chưa bao giờ từng bị đóng. Vấn đề là nhà khoa học có thể đi vào được hay không thôi. Nhà khoa học có trí năng của mình, nhưng trí năng đó không chắc đã đủ để đưa nhà khoa học đi vào thế giới của bản môn. Họ có thể có những đau buồn, những lo lắng, những sợ hãi, những khổ đau che lấp tâm tư của mình. Tâm của nhà khoa học có thể đang trĩu nặng hành trang của những cái thấy, những cái biết; những cái thấy biết còn mang màu sắc lưỡng nguyên. Nếu chưa vượt thoát được ý  niệm thời gian, họ vẫn còn bị rơi vào vòng lẩn quẩn của nhị nguyên. Đó chính là những chướng ngại ngăn không cho họ đi vào cánh cửa mầu nhiệm của thực tại.

Có hai chướng ngại lớn, đó là phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não chướng tức là những vui, buồn, giận, ghét, thất vọng, đam mê v.v… Tâm thức của mình cũng như tâm thức của nhà khoa học đều đang bị những phiền não che lấp và vì vậy không đi vào được thế  giới của bản môn. Nhà bác học Einstein rất thông minh, nhưng trong đời sống cá nhân, ông đã có rất nhiều khổ đau và khó khăn với gia đình. Ông đã ly dị và khổ đau. Nếu Einstein không có những phiền não đó chắc là ông đã đi xa hơn rất nhiều.

Chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể là nhà khoa học hay không phải là nhà khoa học, có thể là nhà Phật học hay không phải là nhà Phật học; nhưng nếu có phiền não chướng trong tâm, thì dù cho cửa bản môn có mở, mình cũng không đi vào được.

Sở tri chướng là phiền não thứ hai. Sở tri là những cái mình biết, mình hiểu, những cái thấy của mình. Nếu mình còn bị kẹt vào ý niệm thời gian, còn thấy tâm thức và vật thể là những cái biệt lập, chủ thể và đối tượng là không tương quan với nhau, Thượng đế và tạo vật là hai cái khác nhau, tách rời nhau; thì những cái thấy nhị nguyên đó ngăn không cho mình đi vào được thế giới của bản môn, thế giới của Niết Bàn.

Đức Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta phương pháp diệt trừ phiền não chướng và sở tri chướng để chúng ta có thể đi vào được trong bản môn. Mình không cần gõ cửa, mình chỉ cần thực tập niệm, định và tuệ (smrti, samādhi, prajña) gọi là Tam vô lậu học, tức là ba môn học đưa tới sự giải thoát. Đây là khoa học của Bụt (the Triple Science of the Buddha). Khoa học của Bụt không cần có những dụng cụ máy móc tối tân như kính viễn vọng, hay máy gia tốc (accélérateur)… mà dụng cụ duy nhất cần được sử dụng chỉ là tâm thôi. Và thành công là khi mình diệt trừ được phiền não chướng và sở tri chướng để tâm có đủ sáng suốt mà quán sát thực tại. Buông bỏ đi hết những hành lý của phiền não và ý niệm lưỡng nguyên, mình có đủ tự do đi vào bản môn. Nhà khoa học có đủ tự do đó hay không? Những kiến thức khoa học có giúp cho nhà khoa học đạt tới tự do hay không? Khoa học có thể giúp cho kỹ thuật phát triển, nhưng trong khi đó nhiều người trong chúng ta vẫn bị cuốn theo những tham giận, kiêu căng và vì vậy khổ đau của chúng ta càng ngày càng lớn.

Trong kho tàng đạo Bụt, có những kinh như kinh Rohitassa, kinh Kalama, đó là những kinh mà Bụt dạy cho chúng ta cách đi vào thế giới bản môn mà con đường là sử dụng tâm như một dụng củ để thể nghiệm thực tại. Mình phải dùi mài, phải làm sáng cái tâm, thì mới có thể thành công được. Khóa học 21 ngày sang năm có thể sẽ có chủ đề “Khoa học của Bụt” (The sciences of the Buddha) và mình sẽ nói về sự liên hệ giữa đạo Bụt và khoa học. Mình có thể mời vài nhà khoa học lượng tử và khoa học thiên văn tới nói chuyện, nhưng chúng ta sẽ trình bày con đường của Bụt như một ngành khoa học. Khoa học này không chỉ dùng trí năng, dùng trí năng thôi thì chưa đủ. Trong đạo Bụt, ngoài trí năng (ý thức, mind-consciousness) còn có tàng thức (store-consciousness) và chỉ khi nào chuyển hóa được tàng thức thì mới có Đại Viên Cảnh Trí, thứ trí tuệ được miêu tả là sáng trong và chân thực như một tấm gương lớn, thứ trí tuệ giúp ta đi vào thế giới của không sinh, không diệt (xin tham khảo giáo lý chuyển hóa tám Thức thành bốn Trí).

Xin đọc một lá thư từ một sư cô trẻ viết cho tôi, đề cập tới vấn đề ân ái:

Con xin thành kính tri ân Sư Ông đã sinh ra những thầy, những sư chú quá sức dễ thương để cho con thương với một tình thương trong sáng, tình huynh đệ. Đối với con, tình thương đó linh thiêng và cao quí lắm, cho nên con không bao giờ dám làm hoen ố từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ. Con thấy mình được an ninh bởi sự bảo hộ của tăng thân. Nếu ở ngoài đời chắc con sẽ còn lận đận và khổ sở lắm với cái tình thế gian đó. Thương yêu nhau mà biết thực tập giới luật và uy nghi, biết tôn kính lẫn nhau thì tình thương ấy rất đẹp và đưa mình đi rất xa.

Trịnh Công Sơn có nói: “May thay trong đời ngoài tình yêu còn có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn là tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh được một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”

Đây là những lời của Trịnh Công Sơn dùng để ca ngợi tình bạn mà sư cô đã trích ra. Sư cô viết tiếp:

Thật vậy, tình bạn đã đưa con đi xa và bây giờ tình huynh đệ còn đưa con đi xa hơn nữa. Thương nhiều người với tấm lòng rộng mở như vậy, con tin là sẽ không bao giờ len lỏi một bóng hình nào trong trái tim mình.

Có người nói, nhìn vào người mình vướng mắc, quán bất tịnh thì sẽ trừ được tham dục. Riêng bản thân con thì con tập quán những cái thiện, cái mỹ của người đó mà thôi, bởi vì những vị đó rất đẹp và dễ thương, làm sao con có thể quán cái không đẹp và không dễ thương nơi vị đó được? Con nhìn vị đó đẹp quá, con thương quá và con không muốn cái đẹp đó mất đi. Lý tưởng của quí vị đang bừng cháy trong quí vị và lý tưởng của con cũng đang bừng cháy trong con thì tại sao con lại dám làm cho ngọn lửa ấy tắt lịm đi bằng sự mê mờ thiếu sáng suốt của mình.

Cũng giống như một bông hoa, chính vì nó đẹp, chính vì nó tươi mát, luôn làm đẹp cho cuộc đời cho nên mình phải tôn trọng và trân quí nó. Nó phải ở đúng vị trí của nó thì nó mới đẹp và mọi người được chiêm ngưỡng. Còn nếu như thấy đẹp mà chiếm làm của riêng cho mình thì tội nghiệp quá, cái đẹp đó sẽ không còn tồn tại được nữa.

Con nghĩ cái khổ của sự nghèo đói, thiếu thốn chắc có lẽ cũng không bằng cái khổ của một người vướng vào chiếc lưới kia. Nó có thể giết chết cuộc đời mình bằng những sợi dây nhợ đan dính vào nhau và đan luôn cả tuổi trẻ với bao nhiêu ước mơ và hy vọng, càng vùng vẫy thì càng cuốn quanh không tìm được lối thoát. Cái khổ này cũng giống như một người bị bệnh nan y, cho dù có thầy giỏi, thuốc hay cũng không thể nào chữa lành.

Con không biết trước được là sau này sẽ như thế nào, nhưng từ khi xuất gia cho đến nay, con thấy với con như vậy là đủ lắm rồi và con rất hài lòng với tình thương con đang có. Tình thương đó cũng xứng đáng để cho con đi xuất gia, để cho con vứt bỏ mọi thứ để đến với con đường này và để học được chữ thương. Thương như thế con thấy khỏe và tự do lắm. Với tình thương này con không cảm thấy có sự sợ hãi, bởi vì con thấy được sự an toàn cho con và cho đối tượng thương yêu của con. Tình thương này rất đẹp, đã đem đến cho con sự quân bình và con cảm thấy mình đã đủ, không còn gì cần phải tìm cầu rong ruổi nữa.

Nếu học được nghệ thuật thương thì tình thương đó sẽ làm thăng hoa đời sống và trưởng dưỡng tâm bồ đề để cùng nhau thực hiện chí nguyện độ sinh và phụng sự Tam bảo.

Bức thư này được viết bởi một sư cô, nhưng bức thư này cũng có thể được viết bởi một thầy hay một sư chú. Sư chú cũng có thể viết:

Con xin thành kính tri ân Sư ông đã sinh ra những sư cô quá sức dễ thương để cho con thương với một tình thương trong sáng, tình huynh đệ. Đối với con tình thương đó linh thiêng và cao quí lắm, cho nên con không bao giờ dám làm hoen ố từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ. Con thấy mình được an ninh bởi sự bảo hộ của tăng thân. Nếu ở ngoài đời chắc con sẽ còn lận đận và khổ sở lắm với cái tình thế gian đó. Thương yêu nhau mà trong đó có chất liệu của sự thực tập giới luật và uy nghi, biết tôn kính lẫn nhau thì tình thương ấy rất đẹp và đưa mình đi rất xa.

Đây là bài pháp thoại Thiền Sư giảng vào ngày 20 tháng 5, năm 2010, tại thiền đường Hội Ngàn Sao, chùa Cam Lộ, xóm Hạ, trong khóa tu mùa Xuân.

Bài kệ 24

Nhược giác nhất thiết pháp       若  覺  一  切  法

Năng bất trước chư Pháp           能  不  著  諸  法

Nhất thiết ái ý giải                          一  切  愛  意  解

Thị vi thông thánh ý                      是  為  通  聖  意

Thấy và hiểu được tự tánh các pháp, không còn bị vướng vào một pháp nào, biết cách gỡ ra mọi sợi dây ái dục trong tâm ý, như thế là đã nắm được ý chỉ của Bụt.

Nhược giác nhất thiết pháp: Nếu giác ngộ được bản tính của tất cả các pháp.

Năng bất trước chư pháp: và có khả năng không bị dính vào các pháp.

Bất trước là không bị kẹt vào. Sở dĩ mình bị kẹt vào là tại vì mình chưa hiểu nó, mình chưa thấy được chân tướng của nó. Nếu hiểu được chân tướng của nó thì mình sẽ không bị kẹt vào nó. Nó có trở thành một cái bẫy hay một nhà tù hay không là do mình có thấy được nó hay không? Chúng ta thấy rất rõ: Sự giải phóng, sự cứu chuộc không phải do ân huệ của một vị thần linh ban tới mà do trí tuệ của mình.

Giác là trí tuệ, là sự tỉnh thức (enlightenment). Thấy được chân tướng của đối tượng đó, mình sẽ không trở thành nô lệ của nó. Mình không trở thành nạn nhân của nó và nó không trở thành tù ngục của mình.

Nếu thấy được bản chất của tất cả các pháp thì sẽ có khả năng không bị dính vào những pháp ấy.

Nhất thiết ái ý giải: Ái ý là dục ý, là tâm ái dục, tâm ham muốn của mình. Giải là cởi ra. Chữ giải cũng có nghĩa là hiểu, nhưng ở đây có nghĩa là thoát ra. Tất cả dục ý đều được cởi bỏ. Ái ý là một sợi dây, trong truyện Kiều có câu: “Lại mang lấy một chữ tình. Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong”. Giải là cởi trói, cởi bỏ sợi dây ái ý.

Thị vi thông thánh ý: Như thế là đã hiểu được lời dạy của Đức Thế Tôn. Thánh là bậc thánh nhân, là đức Thế Tôn. Thông là hiểu được.

Bài kệ 25

Chúng thí Kinh thí thắng              眾  施  經  施  勝

Chúng vị Đạo vị thắng                  眾  味  道  味  勝

Chúng lạc Pháp lạc thắng             眾  樂  法  樂  勝

Ái tận thắng chúng khổ                 愛  盡  勝  眾  苦

Trong các thứ hiến tặng, hiến tặng chánh pháp là quí hơn cả. Trong các mùi hương, hương đạo đức là thơm tho hơn hết. Trong các thứ hạnh phúc, hạnh phúc được sống trong chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Không có phương pháp nào chiến thắng được khổ đau một cách tận cùng bằng sự thực tập dứt trừ ái dục.

Chúng thí Kinh thí thắng: Chữ 施 còn được đọc là thi, thi có nghĩa là làm (thi hành). Nhưng chữ 施 ở đây được đọc là thí, tức là hiến tặng. Trong các loại hiến tặng, hiến tặng Kinh là quí hơn hết. Chữ Kinh không có nghĩa là cuốn kinh mà thôi, mà còn có nghĩa là giáo pháp của Bụt dạy. Chỉ cho người thoát ra khỏi tình trạng hệ lụy, gọi là pháp thí.

Có ba loại bố thí: tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí là cho tiền bạc, cơm ăn áo mặc để bớt nghèo khổ. Pháp thí là cho một con đường để thoát khỏi tình huống bế tắc, khổ đau. Trong ba loại hiến tặng thì pháp thí là quí hơn cả. Thắng là thù thắng.

Chủng vị Đạo vị thắng: Trong các loại vị ngon ngọt, hương vị của đạo đức là ngon ngọt hơn hết.

Chủng lạc Pháp lạc thắng: Trong tất cả các niềm vui, niềm vui của sự thực tập giáo pháp là lớn hơn cả. Được có cơ hội để thực tập giáo pháp với những người bạn tu của mình là một niềm vui rất lớn, nhưng mình lại bỏ đi niềm vui đó (pháp lạc, dharma-sukha) thì rất uổng. Trong các thứ hạnh phúc, hạnh phúc thực tập chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Theo nguyên tắc, mình là người hạnh phúc nhất trên đời vì mình đang có pháp lạc.

Ái tận thắng chúng khổ: Chúng khổ là tất cả mọi khổ não. Muốn vượt thắng được mọi khổ não, phương pháp hay nhất là chấm dứt ái nhiễm. Chính ái nhiễm đem tới khổ đau nhiều nhất. Chấm dứt ái nhiễm là phương pháp diệt trừ khổ đau hay nhất.

Ở đây đưa ra ba ví dụ (bố thí, hương vị và giáo pháp) để kết luận rằng trong những phương pháp diệt khổ thì chấm dứt ái dục là phương pháp hay nhất.

Bài kệ 26

Ngu dĩ tham tự phược                   愚  以  貪  自  縛

Bất cầu độ bỉ ngạn                          不  求  度  彼  岸

Tham vi bại xứ cố                           貪  為  敗  處  故

Hại nhân diệc tự hại                      害  人  亦  自  害

Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình, người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tham dục gây bại hoại, đem lại tai họa cho mình và cho kẻ khác.

Ngu dĩ tham tự phược: Tham là tham dục. Tự phược là tự trói mình. Giải là mở trói. Người u mê (không thông minh) thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình.

Bất cầu độ bỉ ngạn: Không có sự mong ước đi qua bờ bên kia. Bờ bên kia là bờ của an vui, của tự do, của thảnh thơi. Nhưng người này không có tư niệm thực đó, rất là tội nghiệp.

Người tu phải bắt đầu bằng ý nguyện muốn vượt thoát bờ bên này để đi sang bờ bên kia. Ước nguyện đó rất quý, vì không có chí nguyện thì đời đời kiếp kiếp mình sẽ ở trong trầm luân khổ ải. Người không có trí tuệ lấy sợi dây tham dục để tự trói mình và không có nhu yếu đi sang bờ bên kia. “Cho tôi suốt đời được làm một tên nô lệ“, đó là ý muốn của người đó, người đó không muốn có tự do. Là người xuất gia, mình nói ngược lại: “Tôi chỉ muốn một cái, đó là tự do!“

Tham dục vi xứ cố: Tham dục đưa mình tới hoàn cảnh bại hoại.

Hại nhân diệc tự hại: Tham dục làm hại cuộc đời của mình và làm hư cả cuộc đời của người khác. Khi bị vướng vào sợi dây tham dục, mình gây khổ đau cho người khác, mình lạm dụng tình dục của trẻ em, mình lạm dụng tình dục của người lớn, mình làm tan nát gia đình và cuộc sống của họ, đồng thời mình cũng làm tan nát cuộc đời của chính mình.

Bài kệ 27

Ái dục ý vi điền                              愛  欲  意  為  田

Dâm oán si vi chủng                      婬  怨  癡  為  種

Cố thí độ thế giả                             故  施  度  世  者

Đắc phước vô hữu lượng              得  福  無  有  量

Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống, đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phước đức thu hoạch được không thể đo lường.

Ái dục ý vi điền: Điền là ruộng. Tâm ái dục là một thửa ruộng,

Dâm oán si vi chủng: trong thửa ruộng đó, mình gieo hạt giống tham, sân và si. Chủng là  hạt giống. Dâm là tham dục, oán là sự giận hờn, si là sự u mê. Ái dục, oán hờn, si mê, ba loại hạt giống đó mình đã gieo vào trong miếng đất của tâm ý.

Cố độ thí độ giả: Cho nên những người biết thực tập bố thí và độ đời,

Đắc phước vô hữu lượng: phước đức không thể nào đong được. Đắc phước là phước đức thu hoạch được.

Trong bản tiếng Pali, phước là thu hoạch lớn (maha-phala), great harvest. Phala là hoa trái. Những người biết thực tập bố thí và độ đời thì gặt hái được những hoa trái không thể đo lường.

Chúng ta có thể tập hợp hai bài kệ 26 và 27 thành một bài kệ cho sát với bài kệ thứ 356 trong Dhammapada tạng Pali:

Ngu dĩ tham tự phược                   愚  以  貪  自  縛

Bất cầu độ bỉ ngạn                          不  求  度  彼  岸

Ái dục ý vi điền                              愛  欲  意  為  田

Dâm oán si vi chủng                      婬  怨  癡  為  種

Tham vi bại xứ cố                           貪  為  敗  處  故

Hại nhân diệc tự hại                      害  人  亦  自  害

Cố thí độ thế giả                             故  施  度  世  者

Đắc phước vô hữu lượng              得  福  無  有  量

Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình, người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống. Cái tham dục đó gây bại hoại cho mình và cho người khác. Trái lại, đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phước đức thu hoạch được không thể đo lường.

Bài kệ 28

Bạn thiểu nhi hóa đa                      伴  少  而  貨  多    

Thương nhân truật dịch cụ           商  人  怵  惕  懼

Thị dục tặc hại mạng                     嗜  欲  賊  害  命

Cố tuệ bất tham dục                       故  慧  不  貪  欲

Người đồng hành thì ít, hàng hóa chuyên chở thì nhiều, kẻ thương nhân lâm vào trạng thái lo lắng, kinh sợ. Biết rằng cái đam mê dục lạc là tên giặc có thể làm tổn hại thân mạng của mình, bậc trí giả không còn chạy theo tham dục.

Bạn thiểu nhi hóa đa: Bạn là người đồng hành. Người đồng hành thì ít, mà hàng hóa thì nhiều. Đây là những người đi buôn, đi qua những khu rừng vắng hay những sa mạc rất nguy hiểm. Họ có thể bị cướp và mất mạng như chơi.

Đi buôn rất nguy hiểm! Nếu mình chở hàng hóa nhiều mà số lượng người cùng đi với mình ít thì có thể bị cướp chặn đường lấy hàng hóa và giết mình.

Thương nhân truật dịch cụ: Thương nhân là người đi buôn. Truật là sợ hãi. Dịch là kinh hoàng. Cụ là sợ.

Hàng hóa thì nhiều mà người đồng hành thì ít, người thương nhân lâm vào hoàn cảnh hoảng sợ, kinh hoàng.

Thị dục tặc hại mạng: Thị là ham thích, tham đắm. Ham thích ái dục là những tên cướp làm hại tính mạng của mình. Đó là những tên cướp chặn đường lấy đồ và giết hại thương gia, cho nên mình phải sợ những tên giặc đó. Những tên giặc đó là ai? Những tên giặc đó, tên của nó là ái dục. Sự ham thích ái dục là những tên giặc chặn đường ám hại mình.

Cố tuệ bất tham dục: Cho nên những người có tuệ giác không vướng vào tham dục.

Trong bản tiếng Pali nói: Mình sợ hãi giống như một con thỏ sợ bị người ta bắt.

Đây là bài pháp thoại Thiền Sư giảng vào ngày 23 tháng 5 dương lịch năm 2010, tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới.

Hôm nay chúng ta học những bài kệ cuối của kinh Chiếc Lưới Ái Ân.

Bài kệ 29

Tâm khả tức vi dục                        心  可  則  為  欲

Hà tất độc ngũ dục                        何  必  獨  五  欲

Vi khả tuyệt ngũ dục                      違  可  絕  五  欲

Thị nãi vi dũng sĩ                            是  乃  為  勇  士

Năm thứ tham dục phát sinh khi tâm mình cảm thấy có sự khả ý. Phải mau chóng chấm dứt cả năm thứ tham dục, đó mới thật là người dũng sĩ.

Tâm khả tức vi dục: Khả có nghĩa là dễ chịu, ví dụ như khả ái là dễ thương, vừa ý mình. Tâm khả là tâm ưa thích. Nhìn cái vẻ bề ngoài hấp dẫn, lôi cuốn, mình bị đánh lừa và cho nó là khả ý và vướng vào nó. Một khi đã vướng vào rồi, mình sẽ đau khổ vô cùng. Trong kinh có một ví dụ rất dễ hiểu: Có một người rất khát nước, khát tới cháy cổ, người ấy thấy có một cốc nước màu hồng trông rất đẹp, vừa thơm vừa mát, người ấy nghĩ nếu mình được uống cốc nước đó vào thì sẽ dễ chịu vô cùng. Nhưng nhìn kỹ thì thấy có một tờ giấy dán trên cốc: “Nước có thuốc độc, uống vào nếu không chết thì cũng ngất ngư“.  Mình cũng có một chút trí tuệ nên thấy rằng: không nên uống nước này, thứ nước này rất nguy hiểm, nếu uống vào mình có thể chết hoặc ngất ngư. Nhưng vì mình đang khát quá, mà cốc nước kia lại có một bề ngoài rất khả ý nên mình liều nói: “Thôi kệ! Mình cứ uống, có chết thì chết!“ Đó là tâm lý của rất nhiều người. Biết là chết mà vẫn uống. Trong khi đó, mình có thể đi thêm một đoạn nữa để tìm ra được một nguồn nước trong lành, hoặc có thể tìm ra một vài phương pháp giải khát khác, nhưng mình không chịu bởi vì cốc nước đó có một bề ngoài khả ý quá.

Giống như một con cá đang bơi lội trong hồ nước, nó trông thấy một con mồi rất ngon, nó liền lao tới muốn đớp. Một con cá khác khuyên: “Đừng đớp! Trong con mồi đó có lưỡi câu. Nếu ngươi đớp nó, ngươi sẽ lãnh đủ. Chính ta đã từng đớp mồi, từng bị móc họng lên may mà ta rớt xuống”. Trong con mồi ngon mắt ấy có một lưỡi câu! Nhưng con cá kia còn trẻ, còn thiếu kinh nghiệm nên nó nói: “Tại sao lại không đớp, nó ngon như vậy cơ mà?“ và nó cắn. Cố nhiên là nó bị lưỡi câu móc lên. Phía trong cái hấp dẫn ẩn chứa một tai nạn, đó là một lưỡi câu. Đối tượng của dục cũng vậy, nó rất hấp dẫn, nhưng ẩn bên trong đó là một lưỡi câu, mình cắn vào thì bị móc họng. Đó gọi là khả ý. Nếu tâm thấy đó là khả ý thì dục mới sinh khởi. Một người có trí tuệ, nhìn vào cốc nước thì nói: “Nước đó uống vào chỉ thấy dễ chịu trong vài phút, rồi sau đó mình sẽ ngất ngư và có thể chết luôn, vậy mình uống làm gì?“ Trí tuệ đó đủ để che chở mình. Sự giải thoát do trí tuệ mà có. Người có trí tuệ thì được cứu thoát bởi trí tuệ của mình. Trong đạo Phật, sự cứu rỗi không do nơi một vị thần linh mà là do trí tuệ. Khi tâm của mình thấy một đối tượng ưa thích, mình bị cái dục kéo theo tức thì.

Hà tất độc ngũ dục: Có năm thứ dục mà những người chạy theo năm thứ dục ấy sẽ khổ ngất ngư, đó là: giàu sang, sắc dục, danh vọng, thức ăn ngon và ngủ nghỉ vô độ. Những thứ ấy mình biết rằng ăn vào thì sẽ đau khổ, nhưng không ăn không chịu nổi. Mình nghĩ cứ ăn đi rồi sau đó tìm thuốc uống sau.

Vi khả tuyệt ngũ dục: Vi là đi ngược lại, tuyệt là chấm dứt. Thấy được sự giả dối của đam mê thì sẽ chấm dứt được đam mê.

Thị nãi vi dũng sĩ: Cái đó mới đích thực là một chàng dũng sĩ.

Người tu là một chiến sĩ, người chiến sĩ ấy tuy hiền nhưng có sức mạnh. Chiến thắng được tham dục là chiến thắng lớn lao nhất. Chiến thắng được ham muốn của mình và đạt tới tự do thì gọi là một người dũng sĩ. Là người tu mình phải trở thành một dũng sĩ và thanh gươm của người dũng sĩ là thanh gươm trí tuệ, lưỡi gươm cắt phăng mọi phiền não và tham dục.

Trong mỗi người cũng có một nhà tu sĩ. Dù là trai hay gái, dù già hay trẻ đều có trong mình một nhà tu sĩ muốn tu tập để trở thành người tốt. Đó là Phật tính. Ai cũng muốn tu để trở thành người hiền, nhưng sở dĩ không tu được là vì không có điều kiện, chứ không phải vì mình không muốn tu. Và trong mỗi người cũng đều có một nhà nghệ sĩ có khả năng thưởng thức những cái hay, cái đẹp. Con người nghệ sĩ trong ta chưa bao giờ chết. Khi mình ngồi ngắm một buổi bình minh sáng đẹp, đó là người nghệ sĩ trong ta đang hành động. Trong mỗi chúng ta đều phải có một người chiến sĩ. Muốn chiến thắng, trước hết là chiến thắng những yếu kém và khổ đau của mình. Người chiến sĩ đi đôi với người tu sĩ; người chiến sĩ đi đôi với người nghệ sĩ. Mình phải cho người chiến sĩ trong mình một cơ hội. Thanh gươm của người chiến sĩ là thanh gươm trí tuệ cắt đứt được hết mọi phiền não.

Này gươm trí tuệ mài đây

Bao nhiêu phiền não cắt ngay cho rồi

Không đợi tới ngày mai, mình phải cắt đứt phiền não ngay ngày hôm nay, để không bị dây dưa, bị trói buộc vào tình trạng hệ lụy. Con người chiến sĩ trong mình rất muốn vượt thoát, con người tu sĩ trong mình rất muốn vươn lên; nhưng mình cứ để tình trạng đó kéo dài chưa chấm dứt được. Người chiến sĩ trong ta chưa hành động, chưa có quyết tâm cao nên người tu sĩ trong ta vẫn còn bị giam cầm. Người chiến sĩ phải tranh đấu để giải phóng cho người tu sĩ trong mình. Chuyện này cần phải làm ngay trong giây phút hiện tại. Không đợi tới chiều, mà là ngay bây giờ, ta phải quyết tâm không đi theo con đường đó nữa. Ta đã bị thói quen nghiện ngập, rượu chè, ma túy hay sắc dục kéo đi từ bao nhiêu năm tháng. Ta không muốn kéo dài nữa, ta phải lấy thanh gươm trí tuệ cắt đứt chúng ngay bây giờ. Đó là tiếng nói của chàng dũng sĩ trong ta. Phải cho chàng dũng sĩ một cơ hội, phải để chàng dũng sĩ rút gươm ra ngay trong giây phút hiện tại.

Trong nhà thiền có câu dục an đắc an (muốn bình an thì được bình an). Nhưng sao mình muốn có sự bình an trong lòng mà lại chưa có bình an? Tôi muốn được giải thoát, được thảnh thơi, tôi muốn không còn bị lệ thuộc vào nó, tôi muốn không còn bị nô lệ vào nó. Nó có thể là đối tượng của ái dục, là ma túy hay rượu. Nó là những sợi dây ràng buộc tôi từ lâu mà tôi không thoát ra được, cho nên tôi khao khát tự do, tôi mong muốn an bình. Vấn đề là mình có muốn thực sự hay không, và ước muốn có đủ mạnh hay chưa. Chìa khóa ở chỗ là mình có ước muốn thật sự, muốn 100% hay trên nữa, thì mới thành công; nếu chỉ mới muốn 90% thì cũng chưa được.

Cái muốn là một loại thực phẩm, gọi là tư niệm thực. Đó là một nguồn năng lượng rất lớn. Hễ khi mình đã muốn thì chắc chắn mình sẽ đi về hướng đó, nếu chưa đi được về hướng đó là tại vì mình muốn còn hơi ít. Mình muốn sự trị liệu, sự thảnh thơi. Mình phải muốn rất nhiều, muốn cho đến độ nếu không làm được thì thà là mình chết còn hơn. Cũng như khi mình muốn đi xuất gia, không đi xuất gia thì mình chịu không nổi. Phải muốn trên 100% thì mới đi xuất gia, chỉ muốn 99% là hỏng; phải muốn 110% là ít nhất, thì mới được cho xuất gia.

Trong trạng huống bị hệ lụy, bị vương vấn, mất tự do và mình muốn thoát ra. Nhưng cái muốn đó có lớn đủ hay không? Nếu cái muốn đủ lớn thì mình sẽ thoát ra được, ngược lại nếu cái muốn chưa đủ lớn thì mình sẽ còn lặn lội trong đó không biết bao giờ mới ra. Chìa khóa là do mình có muốn hay không. Cái muốn đó từ sự tỉnh thức mà có. Tại sao có sự tỉnh thức? Tại vì mình đã đau khổ lâu ngày, mình đã chán, mình không muốn tiếp tục như vậy một ngày nào nữa. Đó là sự tỉnh thức, đạo Phật là đạo tỉnh thức. Bắt đầu từ sự tỉnh thức đó mình muốn thoát ra. Cái muốn rất quan trọng, gọi là Bồ đề tâm (the mind of enlightenment). Một khi năng lượng của Bồ đề tâm đủ mạnh, nó đủ sức đẩy mình lên một hỏa tiễn vượt không gian, thoát khỏi bầu khí quyển của địa cầu bay lên tới mặt trăng. Đó là nhờ một nguồn năng lượng rất lớn gọi là cái muốn, là Tâm bồ đề. Khi đã có Tâm bồ đề, mình phải làm cho Tâm bồ đề kiên cố, làm cho nó còn hoài để làm nguồn năng lượng cho mình. Vì vậy mình cần có tăng thân, tăng thân là chỗ cho mình nương tựa. Mình đã có giác ngộ, có cái muốn, nhưng mình cần sự yểm trợ của một đoàn thể để mình có thể thành công. Mình cần phải tìm một khung cảnh thích hợp để nuôi dưỡng cái muốn, làm cho cái muốn đó càng ngày càng lớn. Trong đạo Bụt có sự thực tập gọi là “Nương tựa Tăng” (I take refuge in the Sangha).

Ở Tây phương có tổ chức gọi là “Anonymus” để giúp những người nghiện rượu, đó là một tăng thân. Người ta biết một mình họ sẽ không thoát được. Phải có một đoàn thể yểm trợ, thực tập chung thì người ta mới thoát được. Đó gọi là tăng thân. Trên thế giới có những hoàn cảnh rất tiêu cực mà mình cứ ở trong đó thì mình sẽ bị kéo theo. Mình phải tìm một hoàn cảnh tích cực, một hoàn cảnh thuận lợi trong đó mình nuôi dưỡng được cái muốn để có thể thoát ra. Trong đạo Phật nói rất rõ: Nếu muốn thành công thì phải nương tựa vào tăng thân, đó là quy y Tăng. Quy y Tăng không phải là vấn đề tín ngưỡng, mà là vấn đề hành động. Chúng ta phải thật sự ở trong một cộng đồng giúp cho chúng ta đi tới. Phải bám víu vào cộng đồng đó, phải đặt hết thân mạng của mình vào trong cộng đồng đó để nó đưa mình đi, giống như mình đặt mình trong chiếc thuyền để nó đưa mình đi. Tăng thân là một chiếc thuyền, không có thuyền thì mình sẽ chìm xuống biển. Tăng thân là một chiếc thuyền tại, và mọi người trong tăng thân đều thực tập. Tăng thân nâng đỡ, soi sáng và chuyên chở mình đi. Muốn thoát mình phải nương vào tăng thân và mình phải có cái muốn. (If you want peace, you have peace right away. If you want healing, you have healing right away.) Khi có sự giác ngộ và có cái muốn thì sự trị liệu đã bắt đầu. Muốn sự trị liệu được tiếp tục mình phải ở trong một hoàn cảnh thuận lợi. Mình là một anh hùng, nhưng một anh hùng cũng cần một tăng thân để tiếp tục làm anh hùng, nếu không thì chỉ là một anh hùng trong chốc lát.

Khi đã tìm ra con đường, tìm ra tăng thân thì tự nhiên mình có bình an. Cái an đó bắt đầu phát triển, lớn lên và mình có cảm giác thoải mái. Mình đã tìm ra mình, mình đã tìm ra con đường của mình. Khi đã đặt mình vào trong tăng thân và được tăng thân chuyên chở thì mình có an. Nếu trong lòng mình còn do dự, không biết nên đi tới hay đi lui, sang trái hay sang phải thì mình nên biết con đường của mình là phải bám lấy tăng thân. Khi đã tìm thấy sự thoải mái, an lạc trong tăng thân thì mình đúng là một chàng dũng sĩ. Nếu mình còn chân trong chân ngoài, còn muốn rời tăng thân để đi nhập thất một mình thì là hỏng, vì mình chưa có được sự thoải mái trong tăng thân. Có được sự thoải mái trong tăng thân, mình sẽ không còn tâm niệm đó nữa.

Bài kệ 30

Vô dục vô hữu úy                          無  欲  無  有  畏

Điềm đạm vô ưu hoạn                   恬  惔  無  憂  患

Dục trừ sử kết giải                          欲  除  使  結  解

Thị vi trường xuất uyên                 是  為  長  出  淵

Hết tham dục thì không còn sợ hãi, lúc ấy ta mới được thảnh thơi an lạc. Dục hết thì kết sử cũng hết, do đó hành giả ra khỏi được vực sâu.

Vô dục vô hữu úy: Không còn đam mê thì không còn sợ hãi. Không sợ hãi, vô úy (abhaya) là nền tảng của hạnh phúc. Chừng nào còn sợ hãi thì hạnh phúc chưa có thật. Còn chạy theo đối tượng của đam mê thì mình vẫn còn sự sợ hãi. Cái sợ đi đôi với sự đam mê, buông bỏ được đam mê là buông bỏ được sợ hãi. Đây là tâm lý học có chiều sâu (deep psychology). Đôi khi mình sợ mà mình không biết mình sợ cái gì và tại sao mình sợ? Đức Thế Tôn nói: Cái sợ đi đôi với cái đam mê. Nếu buông bỏ được đam mê, thì không lý do gì mình cần phải sợ.

Điềm đạm vô ưu hoạn: Điềm đạm là thảnh thơi, không sôi nổi, không vụt chạc, không nóng nảy. Điềm đạm là sự thanh tịnh, sự an lạc. Khi buông được đam mê, trong lòng mình có liền sự thảnh thơi, không nôn nóng, không vụt chạc, hấp tấp nữa. Mình có cảm tưởng mình đã về đã tới.

Vô ưu hoạn là không có sự lo lắng và tai nạn. Hễ còn đam mê là còn hoạn nạn, hễ còn đam mê là còn lo lắng, hễ còn đam mê là còn lo sợ. Buông bỏ đam mê là thoát khỏi sợ hãi, đạt được an lạc, thoát khỏi lo lắng tai ương.

Dục trừ sử kết giải: Khi đã buông bỏ được đam mê (dục trừ) thì sử và kết được mở ra. Kết là những gút thắt, những nội kết (samnyojana). Giải là tháo ra, gỡ ra. Những phiền não như đam mê, giận hờn, si mê, ganh tị, tuyệt vọng được gỡ ra. Sử là sai sử, là cái sai sử mình. Đôi khi mình không muốn làm, không muốn nghĩ, không muốn nói như vậy; nhưng có một lực lượng nào trong người xúi mình, sai mình nói như vậy, làm như vậy, nghĩ như vậy. Đó là những cái sử. Những phiền não, những tập khí, thói quen thúc đẩy mình suy nghĩ những điều rất kỳ, nói những lời rất bậy, hay làm những chuyện có hại cho mình và cho người khác. Đó là sử, là xúi dại. Có mười sử và mười kết gọi là thập triền thập sử. Khi buông bỏ được đam mê, cởi bỏ được những sử và kết thì

Thị vi trường xuất uyên, lúc đó mới thật sự ra khỏi vực sâu. Vực sâu là cái lâu nay mình ngụp lặn trong đó chưa ra khỏi. Ra khỏi được vực sâu thì rất khỏe!

Bài kệ 31

Dục ngã tri nhữ bổn                       欲  我  知  汝  本

Ý dĩ tư tưởng sanh                         意  以  思 想  生

Ngã bất tư tưởng nhữ                   我  不  思  想  汝

Tức nhữ nhi bất hữu                      則  汝  而  不  有

Nầy ái dục ta ơi, ta biết gốc gác của mi rồi! Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi. Nay ta không còn ước muốn và nhận thức sai lầm về mi thì làm sao mi còn có thể phát sinh.

Chúng ta đã được học điều nầy trong bài kệ trước, dưới một hình thức hơi khác.

Dục ngã tri nhữ bổn: Đam mê của ta ơi! Ta biết được gốc gác của mi rồi, mi không làm gì được ta đâu.

Trong kinh thường nói tới Ma vương, Ma vương hiện ra để đánh lừa Bụt, đánh lừa mình. Mỗi khi Ma vương hiện ra nói những câu rất ngọt, Bụt nhận ra được Ma vương, Bụt nói: “Tôi biết anh rồi!“ thì Ma vương chịu thua. Sau khi Bụt thành đạo, Bụt về thăm thành Ca Tỳ La Vệ, thấy tình trạng trong nước bê bối Ngài hơi buồn. Vua cha thì bất lực và các quan đại thần trong triều không có ai giỏi. Ngài vào ngồi thiền trong một khu rừng gần đó, Ma vương tới nói:

–          Đức Thế Tôn là một nhà chính trị đại tài. Nếu Ngài chịu khó ra làm chính trị thì thế nào cũng giải quyết được vấn đề của đất nước.

Bụt nói:

–          Ta đã biết anh! Anh còn xúi dại ta nữa hả?

Ma vương mắc cỡ biến mất. Đó là những cái sai khiến mình, hấp dẫn mình, đánh vào tự ái của mình. Bụt nói:

–          Ta muốn làm thầy tu, chứ không muốn làm chính trị. Ta đã bỏ ngôi vua, bây giờ không có lý ta lại trở lại làm vua. Làm thầy tu sướng hơn và ta giúp được nhiều người hơn. Anh không đánh lừa ta được đâu!

Ma vương thất vọng quá biến mất. Thỉnh thoảng Ma vương cũng hiện ra dưới hình thức nầy hoặc dưới hình thức khác. Cái dục là Mara tới quyến rũ sư chú, sư cô:

–          Cái đó hay lắm, dễ thương lắm, tốt lắm!

Mình nhìn nó rồi nói:

–          Ta biết mi rồi! My dear, Mara!

Mỗi chúng ta đều có Mara, nó cứ theo dụ mình. Mình phải nói chuyện với nó: “Mara yêu quí của ta ơi! Ta biết mi rồi, mi không làm gì ta được đâu!” Đó gọi là nhận diện đơn thuần. Chỉ nhận diện đơn thuần là đã có tự do rồi.

Ý dĩ tư tưởng sanh: Tâm ý ái dục từ tư và tưởng mà sanh. (cetana) là ước muốn (volition). Tưởng (samjñā) là nhận thức (perception).

Có tà tư (ý muốn sai lạc) và vọng tưởng (nhận thức sai lạc) thì mới sanh dục. Dục ý là do tư duy và tri giác mà sanh ra.

Ngã bất tư tưởng nhữ: Nay ta không có ước muốn và tư duy sai lầm về ngươi

Tức nhĩ nhi bất hữu, dù ngươi còn đó nhưng cũng như ngươi không có, ngươi không làm gì được ta. Bất hữu là không có.

Khi con cá biết con mồi làm bằng plastic và có lưỡi câu ở trong thì con cá không dại gì cắn vào con mồi. Không có ước muốn và nhận thức sai lầm thì con cá tự do bơi lội. Ăn thua là nhận thức của mình cả.

Bài kệ 32 và 33 lặp lại ý mình đã học:

Bài kệ 32

Phạt thọ hốt hưu                            伐  樹  忽  休

Thọ sanh chư ác                             樹  生  諸  惡

Đoạn thọ tận chu                           斷  樹  盡  株

Tỳ-kheo diệt độ                               比  丘  滅  度

Đốn cây ái dục mà không đốn tận gốc thì cây ái dục sẽ mọc trở lại. Đốn cây ái dục mà tận gốc thì vị xuất sĩ đạt tới Niết Bàn.

Phạt thọ hốt hưu

Thọ sanh chư ác

Nếu đốn cây không tận gốc thì cây sanh trở lại những cái ác.

Đoạn thọ tận chu

Tỳ kheo diệt độ

Nếu đốn cây tận gốc thì vị Tỳ Kheo đạt tới Niết Bàn. Diệt độ là Niết Bàn.

Bài kệ 33

Phu  bất phạt thọ                            夫  不  伐  樹

Thiểu đa dư thân                            少  多  餘  親

Tâm hệ ư thử                                  心  繫  於  此

Như độc cầu mẫu                          如  犢  求  母

Nếu không chịu chặt cây ái dục thì cánh lá ái dục ít nhiều sẽ còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục thì người vẫn còn như một con bê, luôn luôn cần đến vú mẹ.

Phu bất phạt thọ

Thiểu đa dư thân

Nếu không đốn cây ái dục thì nó ít hay nhiều vẫn còn phát sinh ra.

Tâm hệ ư thử: Tâm mình còn bị ràng buộc vào nơi đó thì

Như độc cầu mẫu, cũng giống như con bò con không có tự do chỉ quanh quẩn đi theo bò mẹ. Mình đi quanh quẩn theo đối tượng ái dục của mình mà không thoát ra được. Đối tượng đó có thể là ma túy, là rượu chè, là ái dục. Mình không phải là một bậc trượng phu, mình không phải là anh hùng tại vì mình không biết cách sử dụng thanh gươm hay nếu có cũng chỉ dùng thanh gươm bằng gỗ. Làm sao có thể đoạn đứt mọi não phiền!

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …