Home / Giảng Luận / Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (3)

Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (3)

Trích các đoạn kinh Đức Phật dạy về 10 pháp tùy niệm, theo Bhikkhu Bodhi Bản dịch Việt của Hoa thượng Thích Minh Châu Bình Anson trích đoạn và hiệu đính (21/06/2017)
1. NIỆM PHẬT (Buddhānussati) Này Mahānāma, thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Mahānāma, trong khi vị thánh đệ tử niệm Như Lai, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Như Lai. Này Mahānāma, một thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật”. –(AN 6.10)
2. NIỆM PHÁP (Dhammānussati) Này Mahānāma, thánh đệ tử tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những bậc trí tự mình giác hiểu!”. Này Mahānāma, trong khi vị thánh đệ tử tùy niệm Pháp, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Pháp. Này Mahānāma, thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến Pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Pháp”. –(AN 6.10)
3. NIỆM TĂNG (Saṅghānussati) Này Mahānāma, thánh đệ tử tùy niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử Thế Tôn này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời”. Này Mahānāma, trong khi thánh đệ tử tùy niệm chúng Tăng, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Tăng. Này Mahānāma, thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến Tăng. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Tăng”. –(AN 6.10)
4. NIỆM GIỚI (Sīlānussati) Này Mahānāma, thánh đệ tử tùy niệm các Giới của mình: “Giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không có uế tạp, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định”. Này Mahānāma, trong khi thánh đệ tử tùy niệm Giới, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Giới. Này Mahānāma, thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến Giới. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Giới”. –(AN 6.10)
5. NIỆM THÍ (Cāgānussati) Này các tỳ-khưu, thánh đệ tử tự mình niệm Thí của mình: “Thật là được lợi cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta! Vì rằng với quần chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”. Này Mahānāma, trong khi vị thánh đệ tử tùy niệm bố thí, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Thí. Này Mahānāma, thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến Thí. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Thí”. –(AN 6.10)
6. NIỆM THIÊN (Devatānussati) Này Mahānāma, thánh đệ tử tu tập tùy niệm Thiên: “Có chư thiên bốn Thiên vương Thiên, có chư thiên cõi trời Ba mươi ba, có chư thiên Yāma, có chư thiên Tusitā (Ðâu-suất), có chư thiên Hóa lạc thiên, có chư thiên Tha hóa Tự tại, có chư thiên Phạm chúng, có chư thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin (Tín) như vậy, chư thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sinh tại chỗ kia. Lòng tin (Tín) như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với Giới như vậy, chư thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sinh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe Pháp như vậy, chư thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sinh tại chỗ kia. Nghe Pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với Thí như vậy, chư thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sinh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ ở nơi ta. Ðầy đủ với Tuệ như vậy, chư thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sinh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng đầy đủ nơi ta”. Khi vị ấy niệm Tín, Giới, nghe Pháp, Thí và Tuệ của tự mình và chư thiên ấy; tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào chư thiên. Này Mahānāma, thánh đệ tử với tâm chánh trực được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sinh. Người có hỷ nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Này Mahānāma, về vị thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Thiên”. –(AN 6.10)
7. NIỆM HƠI THỞ (Ānāpānasati) Này Ānanda, thế nào là niệm hơi thở vào, hơi thở ra? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra.
Thở vô dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở vô dài”. Thở ra dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra dài”, Hay thở vô ngắn, vị ấy rõ biết “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Này Ānanda, đó là niệm hơi thở vô, hơi thở ra. –(AN 10.60; xem thêm: SN 54.10, SN 54.13)
8. NIỆM CHẾT (Maraṇānussati) Niệm chết, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Vậy tu tập niệm chết như thế nào, làm cho sung mãn niệm chết như thế nào để đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh bất tử?
Ở đây, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu khi ngày vừa tàn và đêm vừa bắt đầu, suy tư như sau: “Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: (1) con rắn có thể cắn ta; con bò cạp có thể cắn ta; hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung; như vậy sẽ chướng ngại cho ta. (2) Ta có thể vấp ngã và té xuống. (3) Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay (4) mật có thể khuấy động ta, (5) đàm có thể khuấy động ta. (6) Các cơn gió sắc như kiếm có thể khuấy động ta. (7) Người có thể công kích ta, hay (8) phi nhân có thể công kích ta, do vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta”.
Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, ta còn có những pháp ác, bất thiện nào chưa được đoạn tận là chướng ngại cho ta?”. Nếu vị tỳ-khưu ấy trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: “Nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, ta vẫn còn có những pháp ác, bất thiện chưa được đoạn tận là chướng ngại cho ta”, thì vị tỳ-khưu ấy cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển chánh niệm và tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác, bất thiện ấy.
Ví như áo bị cháy hay đầu bị cháy, để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn tinh cần nỗ lực, không có thối chuyển, niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, vị tỳ-khưu để đoạn tận các ác, bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, niệm, và tỉnh giác.
Nếu tỳ-khưu ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: “Nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, ta không có những pháp ác, bất thiện nào chưa được đoạn tận là chướng ngại cho ta”, thì vị tỳ-khưu ấy cần phải sống hân hoan hỷ lạc, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
[Tương tự: … khi đêm vừa tàn và ngày bắt đầu … ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay …] –(AN 8.74 thu gọn; xem thêm: AN 8.73, AN 6.19-20)
9. NIỆM THÂN (Kāyagatāsati) Này Ānanda, thế nào là tưởng bất tịnh? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, dạ dày, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ānanda, đây gọi là tưởng bất tịnh. –(AN 10.60)
10. NIỆM TỊCH TĨNH (Upasamānussati) Này Ānanda, thế nào là ly tham? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sinh y, ái diệt, ly tham, Niết-bàn”. Này Ānanda, đây được gọi tưởng ly tham.
Này Ānanda, thế nào là tưởng đoạn diệt? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sinh y, ái diệt, đoạn diệt, Niết-bàn”. Này Ānanda, đây được gọi tưởng đoạn diệt. –(AN 10.60)
—————————————————————————————-
The Ten Recollections Translated by Bhikkhu Bodhi
1. RECOLLECTION OF THE BUDDHA Mahānāma, a noble disciple recollects the Tathāgata thus: “The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.” When a noble disciple recollects the Tathāgata, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on the Tathāgata. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of the Buddha. –(AN 6.10)
2. RECOLLECTION OF THE DHAMMA Mahānāma, a noble disciple recollects the Dhamma thus: “The Dhamma is well expounded by the Blessed One, directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise.” When a noble disciple recollects the Dhamma, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on the Dhamma. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of the Dhamma. –(AN 6.10)
3. RECOLLECTION OF THE SAṄGHA Mahānāma, a noble disciple recollects the Saṅgha thus: “The Saṅgha of the Blessed One”s disciples is practicing the good way, practicing the straight way, practicing the true way, practicing the proper way; that is, the four pairs of persons, the eight types of individuals—this Saṅgha of the Blessed One”s disciples is worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, the unsurpassed field of merit for the world.” When a noble disciple recollects the Saṅgha, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on the Saṅgha. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of the Saṅgha. –(AN 6.10)
4. RECOLLECTION OF VIRTUOUS BEHAVIOR Mahānāma, a noble disciple recollects his own virtuous behavior as unbroken, flawless, unblemished, unblotched, freeing, praised by the wise, ungrasped, leading to concentration. When a noble disciple recollects his virtuous behavior, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on virtuous behavior. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of virtuous behavior. –(AN 6.10)
5. RECOLLECTION OF GENEROSITY Mahānāma, a noble disciple recollects his own generosity thus: “It is truly my good fortune and gain that in a population obsessed by the stain of miserliness, I dwell at home with a mind devoid of the stain of miserliness, freely generous, openhanded, delighting in relinquishment, devoted to charity, delighting in giving and sharing.” When a noble disciple recollects his generosity, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on generosity. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of generosity. –(AN 6.10)
6. RECOLLECTION OF THE DEITIES Mahānāma, a noble disciple recollects the deities thus: “There are devas [ruled by] the four great kings, Tāvatiṃsa devas, Yāma devas, Tusita devas, devas who delight in creation, devas who control what is created by others, devas of Brahmā”s company, and devas still higher than these. There exists in me too such faith as those deities possessed because of which, when they passed away here, they were reborn there; there exists in me too such virtuous behavior … such learning … such generosity … such wisdom as those deities possessed because of which, when they passed away here, they were reborn there.” When a noble disciple recollects the faith, virtuous behavior, learning, generosity, and wisdom in himself and in those deities, on that occasion his mind is not obsessed by lust, hatred, or delusion; on that occasion his mind is simply straight, based on the deities. A noble disciple whose mind is straight gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains joy connected with the Dhamma. When he is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One tranquil in body feels pleasure. For one feeling pleasure, the mind becomes concentrated. This is called a noble disciple who dwells in balance amid an unbalanced population, who dwells unafflicted amid an afflicted population. As one who has entered the stream of the Dhamma, he develops recollection of the deities. –(AN 6.10)
7. MINDFULNESS OF BREATHING Ānanda, what is mindfulness of breathing? Here, a bhikkhu, having gone to the forest, to the foot of a tree, or to an empty hut, sits down. Having folded his legs crosswise, straightened his body, and established mindfulness in front of him, just mindful he breathes in, mindful he breathes out.
Breathing in long, he knows: “I breathe in long”; or breathing out long, he knows: “I breathe out long.” Breathing in short, he knows: “I breathe in short”; or breathing out short, he knows: “I breathe out short.” He trains thus: “Experiencing the whole body, I will breathe in”; he trains thus: “Experiencing the whole body, I will breathe out.” He trains thus: “Tranquilizing the bodily activity, I will breathe in”; he trains thus: “Tranquilizing the bodily activity, I will breathe out.”
He trains thus: “Experiencing rapture, I will breathe in”; he trains thus: “Experiencing rapture, I will breathe out.” He trains thus: “Experiencing happiness, I will breathe in”; he trains thus: “Experiencing happiness, I will breathe out.” He trains thus: “Experiencing the mental activity, I will breathe in”; he trains thus: “Experiencing the mental activity, I will breathe out.” He trains thus: “Tranquilizing the mental activity, I will breathe in”; he trains thus: “Tranquilizing the mental activity, I will breathe out.”
He trains thus: “Experiencing the mind, I will breathe in”; he trains thus: “Experiencing the mind, I will breathe out.” He trains thus: “Gladdening the mind, I will breathe in”; he trains thus: “Gladdening the mind, I will breathe out.” He trains thus: “Concentrating the mind, I will breathe in”; he trains thus: “Concentrating the mind, I will breathe out.” He trains thus: “Liberating the mind, I will breathe in”; he trains thus: “Liberating the mind, I will breathe out.”
He trains thus: “Contemplating impermanence, I will breathe in”; he trains thus: “Contemplating impermanence, I will breathe out.” He trains thus: “Contemplating fading away, I will breathe in”; he trains thus: “Contemplating fading away, I will breathe out.” He trains thus: “Contemplating cessation, I will breathe in”; he trains thus: “Contemplating cessation, I will breathe out.” He trains thus: “Contemplating relinquishment, I will breathe in”; he trains thus: “Contemplating relinquishment, I will breathe out.” –(AN 10.60)
8. MINDFULNESS OF DEATH Bhikkhus, mindfulness of death, when developed and cultivated, is of great fruit and benefit, culminating in the deathless, having the deathless as its consummation. And how is this so?
Here, bhikkhus, when day has receded and night has approached, a bhikkhu reflects thus: “I could die on account of many causes. (1) A snake might bite me, or a scorpion or centipede might sting me, and I might thereby die; that would be an obstacle for me. (2) I might stumble and fall down, or (3) my food might disagree with me, or (4) my bile might become agitated, or (5) my phlegm might become agitated, or (6) sharp winds in me might become agitated, or (7) people might attack me, or (8) wild spirits might attack me, and I might die; that would be an obstacle for me.”
This bhikkhu should reflect thus: “Do I have any bad unwholesome qualities that have not been abandoned, which might become an obstacle for me if I were to die tonight?” If, upon review, the bhikkhu knows: “I have bad unwholesome qualities that have not been abandoned, which might become an obstacle for me if I were to die tonight,” then he should put forth extraordinary desire, effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to abandon those bad unwholesome qualities. Just as one whose clothes or head had caught fire would put forth extraordinary desire, effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to extinguish [the fire on] his clothes or head, so that bhikkhu should put forth extraordinary desire, effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to abandon those bad unwholesome qualities.
But if, upon review, the bhikkhu knows: “I do not have any bad unwholesome qualities that have not been abandoned, which might become an obstacle for me if I were to die tonight,” then he should dwell in that same rapture and joy, training day and night in wholesome qualities.
[similarly for: … when night has receded and day has approached … this day …] –(AN 8.74 abridged; also: AN 8.73, AN 6.19-20)
9. MINDFULNESS DIRECTED TO THE BODY Ānanda, what is the perception of unattractiveness? Here, a bhikkhu reviews this very body upward from the soles of the feet and downward from the tips of the hairs, enclosed in skin, as full of many kinds of impurities: “There are in this body hair of the head, hair of the body, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, pleura, spleen, lungs, intestines, mesentery, stomach, excrement, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, fluid of the joints, urine.” Thus he dwells contemplating unattractiveness in this body. This is called the perception of unattractiveness.
10. RECOLLECTION OF PEACE Ānanda, what is the perception of dispassion? Here, having gone to the forest, to the root of a tree, or to an empty hut, a bhikkhu reflects thus: “This is peaceful, this is sublime, that is, the stilling of all activities, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, nibbāna.” This is called the perception of dispassion.
And what, Ānanda, is the perception of cessation? Here, having gone to the forest, to the root of a tree, or to an empty hut, a bhikkhu reflects thus: “This is peaceful, this is sublime, that is, the stilling of all activities, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, cessation, nibbāna.” This is called the perception of cessation. –(AN 10.60)
*
Binh Anson

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …