Home / Giảng Luận / Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (2)

Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (2)

Mười Tùy Niệm (2) Tăng Nhất A-hàm, Thiên Một Pháp, Phẩm Thập Niệm
Trích dịch, dựa theo hai bản Việt dịch của: a) Thích Đức Thắng và Tuệ Sỹ, b) Thích Thiện Siêu và Thích Thanh Từ – (Bình Anson, 20/05/2017)
*
Kinh số 1: … “Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật. Hãy khéo tu hành. Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-khưu, hãy tu hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các Tỳ-khưu, hãy học điều này.”
Kinh số 2-10: … niệm Pháp … niệm Tăng … niệm Giới … niệm Thí … niệm Thiên … niệm Hưu tức [1] … niệm An-ban [2] (Hơi thở) … niệm Thân … niệm Chết …
Ghi chú: [1] 念休息 niệm hưu tức: niệm nghỉ ngơi, dừng nghỉ, an nghỉ. Bản (a) ghi chú là tương đương với niệm Tịch tĩnh (Niết-bàn) của Pāli “upasamānussati”, tiếng Anh là “recollection of peace, stilling”. Bản Việt dịch (b): niệm Dừng nghỉ.
[2] An-ban: âm từ “anapana”, 念安般: niệm an-ban
*
Phẩm Quảng Diển Kinh số 1: … Thế nào là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?
Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời. trong khi mắt không rời, niệm tưởng công đức Như Lai. Thể của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng. Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán mắt. Giới đức thành tựu giống như kim cương không thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly. Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ, vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im,[1] ý tham dục, tưởng sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết[2] do dự, tất đều tận trừ. Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị chướng ngại. Thân Như Lai, được thành tựu từ giải thoát, các cõi[16] đã hết, không còn sinh phần để nói ‘Ta sẽ đọa nơi sinh tử.’ Thân Như Lai được vượt qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng được độ hay không đáng được độ, chết đây sinh kia, xoay vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải thoát, người không giải thoát; Như Lai thảy đều biết tất cả.
Kinh số 2-10: …. Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Pháp, trừ các dục ái, không còn trần lao, tâm khát ái vĩnh viễn không nổi lên nữa. Phàm Chánh pháp là ở nơi dục mà đạt đến vô dục, lìa các kết phược và các bệnh của triền cái. Pháp này giống như mùi các loại hương, không có tỳ vết của niệm loạn tưởng
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Tăng. Thánh chúng của Như Lai thành tựu từ nghiệp lành, chất trực, thuận nghĩa, không có nghiệp tà, trên dưới hòa mục, pháp pháp thành tựu.[4a] Thánh chúng của Như Lai thành tựu giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát. Thánh chúng ấy gồm có bốn đôi, tám hạng. [4b] Đó là Thánh chúng của Như Lai, xứng đáng được tùy thuận cung kính, thừa sự, lễ bái. Sở dĩ vậy là vì đó là ruộng phước của thế gian. Ở trong Chúng này đều cùng là pháp khí, cũng vì tự độ lại độ người khác đến đạo ba thừa. Nghiệp như vậy gọi là Thánh chúng.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Giới. Giới có nghĩa là dừng các điều ác. Giới khiến thành tựu đạo, khiến người hoan hỷ. Giới là anh lạc đeo thân, hiện những vẻ đẹp. Phàm cấm giới, giống như bình cát tường,[5] mọi sở nguyện liền đạt được. Mọi pháp đạo phẩm đều do giới mà thành tựu.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Thí. Những gì tôi bố thí hôm nay, là tối thượng trong các sự thí, vĩnh viễn không có tâm hối hận, không mong đền đáp để mong được thiện lợi. Nếu người nào mắng tôi, tôi quyết không mắng trả. Dù người hại tôi, dùng tay đánh, dao gậy đập, gạch đá ném, tôi cũng sẽ khởi lòng từ, không nổi sân hận. Những gì tôi bố thí, ý muốn cho sẽ không dứt tuyệt.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Thiên. Thân, miệng, ý trong sạch, không tạo hành vi ô uế; thực hành giới thành tựu thân. Thân phóng ánh sáng tỏa khắp mọi nơi, thành tựu thân trời kia. Quả báo lành thành tựu thân trời kia. Các hành đầy đủ mới thành thân trời.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm tịch tĩnh (hưu tức) [6]. Tịch tĩnh là tâm ý tưởng lắng đọng, chí tánh an nhàn, mà không nóng nảy; tâm hằng chuyên nhất, thích nơi vắng vẻ, thường tìm phương tiện nhập định tam-muội, thường niệm tưởng không ham tranh thắng, dành chỗ trước trên.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân kiết già, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm an-ban. [7] Nói an-ban, tức là khi hơi thở dài, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang dài; nếu hơi thở lại ngắn, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang ngắn; nếu hơi thở rất lạnh, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang lạnh; nếu hơi thở lại nóng, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang nóng. Quán khắp thân thể từ đầu đến chân, tất cả đều nên quán biết. Nếu hơi thở lại có dài ngắn, cũng hãy quán hơi thở có dài ngắn. Dụng tâm đặt nơi toàn thân,[8] biết hơi thở dài ngắn, tất cả đều biết rõ, cho đến khi hơi thở ra vào được phân biệt rõ ràng. Nếu tâm đặt nơi thân, biết hơi thở dài ngắn, cũng lại biết rõ, đếm hơi thở dài ngắn cũng phân biệt rõ ràng.
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm thân. Niệm thân là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, mật, gan, phổi, tim, lá lách, thận, ruột già, ruột non, bạch chức [9], bàng quang, phẩn, tiểu, dạ dày[10], thương đãng,[11] dịch vị,[12] nước mắt, đờm dãi, mủ, máu, mỡ, nước miếng, đầu lâu, não.[13] Cái nào là thân? Đó là đại chủng đất? Đó là đại chủng nước? Đó là đại chủng lửa? Đó là đại chủng gió? Được tạo ra bởi giống của cha, giống của mẹ chăng? Nó từ đâu đến? Do ai tạo ra? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, chết ở đây sẽ sinh về nơi nào?
… Tỳ-khưu chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm chết. Chết là mất ở đây, sinh bên kia; qua lại các đường, sinh mạng trôi đi không dừng, các căn tan hoại, như khúc gỗ mục nát; mạng căn đoạn tuyệt, giòng họ chia lìa, không hình không tiếng, cũng không tướng mạo.
Ghi chú:
[1] Để bản: đãm phạ 憺怕. Nên đọc là đạm bạc 憺怕.
[2] Để bản: võng kết 網結. TNM: 慢結 mạn kết. Pāli: māna-saññojana.
[3] Nguyên Hán: chư thú dĩ tận 諸趣已盡, chỉ các cõi thọ sinh, tức tái sinh. Pāli: gati. Nhưng định ngữ thường gặp: khīṇạjāti, sanh dĩ tận, sự tái sinh đã dứt hết. Có lẽ bản Hán đọc là khīṇa-gati.
[4a] Pháp pháp thành tựu 法法成就, nên hiểu là pháp tùy pháp hành (Pāli: dhammānudhamma-paṭipanna), thực hành theo thuận thứ của pháp.
[4b] 聖眾者, 所謂四雙八輩 Thánh chúng giả, sở vị tứ song bát bối. “Tăng” ở đây là cộng đồng các bậc Thánh, bốn đôi tám bậc (đạo và quả Dự Lưu, Bất Lai, Nhất Lai, A-la-hán).
[5] Cát tường bình吉祥瓶, tức đức bình 德瓶; Đại trí độ 13 (154a07): “Trời có mọt cái binh gọi là đức bình, từ trong đó sản xuất những vật cần yếu. Ai có bình này, muốn gì đều được.” Skt. maṇgalapātra/ maṅgalapūrṇa-kumbha. Không tìm thấy Pāli tương đương.
[6] Nguyên Hán: hưu tức 休息. Pāli: upasamānussati, niệm tịch tĩnh.
[7] An-ban niệm 安般, niệm hơi thở ra vào.
[8] Dụng tâm trì thân 用心持身; chính xác nên hiểu: cảm giác toàn thần khi thở vô… khi thở ra. Pāli: sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
[9] Bạch chức 白膱 (?) Khang hy: “Thịt khô (脯 phủ) dài 1 thước 2 tấc gọi là chức.” Có lẽ đây nên đọc là bạch mô 白膜. Nhưng cũng không biết chỉ thứ gì.
[10] Hán: bách diệp 百葉, nguyên chỉ dạ dày của bò dê.
[11] Thương đãng 滄蕩 (?)
[12] Nguyên: tì bào 脾泡, bong bóng hay bọt nơi lá lách (?).
[13] Đại thể, gồm 36 vật trong thân, cf. Tạp 43, T2n99, tr. 311a28; Đại Bát-nhã 53, T5n220, tr. 298b26. Cf. Pāli, M.iii. 90.
髮 phát, 毛 mao, 爪 trảo, 齒 xỉ, 皮 bì, 肉 nhục, 筋 cân, 骨 cốt, 膽 đảm, 肝 can, 肺 phế, 心 tâm, 脾 tì, 腎 thận, 大腸 đại tràng, 小腸 tiểu tràng, 白直 bạch trực (?), 膀胱 bàng quang, 屎 thỉ, 尿 niệu, 百[葉 bách diệp, 滄蕩 thương đãng (?), 脾泡 tì bào (?), 溺 niệu, 淚 lệ, 唾 thóa, 涕 thế, 膿 nùng, 血 huyết, 肪脂 phương chi, 髑髏 độc lâu, 腦 não
Bình Anson

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …