Home / Giảng Luận / Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (1)

Mười Tùy Niệm – Ten Recollections (1)

Mười Tùy Niệm Phẩm Một Pháp (AN 1.296-305) Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
(296) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(297) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Pháp. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(298) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Tăng. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(299) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Giới. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(300) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Thí. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(301) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Thiên. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(302) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Hơi thở. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(303) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Chết. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(304) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Thân. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
(305) Có một pháp, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Tịch tịnh. Chính một pháp này, này các tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
GHI CHÚ:
1) Xem giải thích chi tiết và thực hành trong Thanh Tịnh Đạo, Chương VII và VIII.
2) Sáu tùy niệm đầu tiên (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, Thiên): xem AN 6.10
3) Niệm Hơi thở: AN 10.60, SN 54:10, SN 54:13, MN 118
4) Niệm Chết: AN 6.19, AN 6.20, AN 8.73, AN 8.74
5) Niệm Thân: AN 10.60
6) Niệm Tịnh Tịch: tương tự như quán tưởng ly tham và quán tưởng đoạn diệt trong AN 10.60
TEN RECOLLECTIONS (AN 1.296-305) Translated by Bhikkhu Bodhi
(296) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. [1] What is that one thing? Recollection of the Buddha. [2] This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(297) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of the Dhamma. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(298) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of the Saṅgha. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(299) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of virtuous behavior. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(300) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of generosity. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(301) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of the devas. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(302) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Mindfulness of breathing. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(303) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Mindfulness of death. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(304) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Mindfulness directed to the body. This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
(305) “Bhikkhus, there is one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna. What is that one thing? Recollection of peace. [3] This is that one thing that, when developed and cultivated, leads exclusively to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to nibbāna.”
NOTES:
[1] Recollection of the Buddha (buddhānussati) is the first of the six recollections described more fully at AN 6:10 and elaborated at Vism 197–213, Ppn 7.1–67. Here is Mp (abridged): “Recollection of the Buddha serves two purposes: giving joy to the mind and promoting insight (cittasampahaṃsanatthañ c’eva vipassanatthañca). How? When a bhikkhu develops a meditation subject like unattractiveness [of the body], his mind may be disturbed, dissatisfied, and joyless. It does not remain on track but roams around like a wild bull. On that occasion, he should put aside his basic meditation subject and recollect the excellent qualities of the Tathāgata. As he recollects the Buddha, his mind becomes placid and free from hindrances. He can then return to his basic meditation object, develop insight, and reach the plane of the noble ones. Thus recollection of the Buddha gives joy to the mind. But one can also use this meditation subject directly for the purpose of developing insight. After recollecting the Buddha, one dissects the act of recollection into the five aggregates and defines them thus: ‘These five aggregates are, in brief, the truth of suffering. The craving that produced them is the truth of the origin. The cessation of craving is the truth of cessation; and the practice that understands cessation is the truth of the path.’ Thus one has defined the four truths in the preliminary portion [the stage of insight] and one step by step reaches the stage of the noble ones.”
[2] In Be these nine suttas are combined into one, numbered 297 in Be’s cumulative numbering scheme. In Ce and Ee, they are numbered 2–10 (since these editions number the first sutta in each vagga as “1” without cumulative numbering). I follow Be in using a cumulative numbering scheme, but I follow Ce and Ee in counting these suttas separately. Thus my numbering scheme from here on will exceed Be by eight, but without being matched by any corresponding scheme in Ce or Ee. In parentheses I give the sutta number internal to the subchapters, called vaggas, but simply enumerated without proper title.
[3] The meditation subjects from recollection of the Dhamma through recollection of the devas are the other five recollections, also discussed in AN 6:10 §§2–6 and elaborated at Vism 213–26, Ppn 7.68–118. Mindfulness of breathing (ānāpānassati) is dealt with more fully at AN 10:60 §10, SN 54:10, V 322–25, and SN 54:13, V 328–33. For the commentarial treatment, see Vism 267–93, Ppn 8.145–244. Mindfulness of death (maraṇassati) is at AN 6:19, AN 6:20, AN 8:73, and AN 8:74, elaborated at Vism 229–39, Ppn 8.1–41. Mindfulness directed to the body (kāyagatā sati), as the unattractive nature of the body, is at AN 10:60 §3, and elaborated at Vism 239–66, Ppn 8.42–144. Recollection of peace (upasamānussati) occurs only here and is not separately explained but is treated at Vism 293–94, Ppn 8.245–51; this treatment closely resembles the perception of dispassion and the perception of cessation at AN 10:60 §§6–7.
Binh Anson

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …