Home / Giảng Luận / (5) Quán tưởng về sự từ bỏ

(5) Quán tưởng về sự từ bỏ

(5) QUÁN TƯỞNG VỀ SỰ TỪ BỎ PERCEPTION OF ABANDONING – Pahānasaññā, 捨斷想 Xả đoạn tưởng Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts, Bhikkhu Anālayo (2017). pp 223-226
(5) Và này Ānanda, thế nào là tưởng từ bỏ? Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu không chấp nhận dục tầm đã sinh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, không còn sinh trưởng; không chấp nhận sân tầm đã sinh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, không còn sinh trưởng; không chấp nhận hại tầm đã sinh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, không còn sinh trưởng; không chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, không còn sinh trưởng. Này Ānanda, đây được gọi tưởng từ bỏ. (Kinh Girimānanda, AN 10.60)
Tại thời điểm này trong tiến trình quán tưởng, nền tảng của nội quán đã được thiết lập bằng cách nuôi dưỡng bốn nhận thức đối nghịch với bốn tưởng điên đảo (vipallāsa, perversions) – nhận thức sai lầm về những gì vốn là vô thường, khổ, vô ngã, và không hấp dẫn. Đến giai đoạn nầy, hành giả tu tập hai nhận thức bao gồm toàn bộ kinh nghiệm của mình – qua năm uẩn và sáu căn, tiếp theo là hai nhận thức tập trung vào cơ thể, gồm các bộ phận trong thân và các nguy hại bệnh tật hướng đến nhận thức các cảm thọ. Theo trình tự cơ bản của bốn pháp lập niệm (satipaṭṭhāna: thân, thọ, tâm, pháp), bây giờ hành giả chuyển sang quán tưởng về tâm. Bốn loại tư tưởng hoặc điều kiện tinh thần mà ta phải vượt qua là:
· Tham dục (dục tầm), · Sân hận (sân tầm), · Tác hại (hại tầm), · Các phẩm chất xấu xa và bất thiện (ác bất thiện pháp).
Phiên bản Pāli đề nghị rằng hành giả không nên “chấp nhận” những ý nghĩ như thế, và phải “từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt và loại bỏ nó”. Phiên bản Tây Tạng tương đương khuyên hành giả “không trú vào sự phát sinh” của các ý nghĩ đó, mà phải “loại bỏ, chấm dứt, không tạo thành thói quen, và không nuôi dưỡng chúng”.
Quán về tham dục có thể xem như một nối tiếp tự nhiên với các pháp quán tưởng trước. Quán tưởng về bất tịnh hay bất mỹ của thân thể giúp giảm thiểu đáng kể về tham dục thể xác và giúp thiết lập tư duy đối nghịch, một thái độ xả ly – nekkhamma – buông bỏ các quan tâm dục lạc. Đây là trạng thái tâm khi dục vọng tạm thời biến mất. Hỗ trợ thêm cho sự tu dưỡng tâm xả ly là pháp quán tưởng về các nguy hại. Khi ta có thể buông bỏ càng nhiều các tầm cầu sắc dục thì ta càng ít bị tác động bởi thân thể đau nhức khi bị bệnh. Cùng thế ấy, khi ta càng nhận thức được rằng khuynh hướng tự nhiên của cơ thể là dễ mắc bệnh và đưa đến đau đớn thì ta càng ít bị lạc lối trong việc tầm cầu dục lạc và thỏa mãn các cảm giác.
Phân biệt các trạng thái tâm thiện và bất thiện dựa theo các lời dạy trong kinh Lập Niệm (Satipaṭṭhāna-sutta, kinh Niệm Xứ) trong tạng Nikāya và tạng A-hàm. Một khía cạnh quan trọng nhưng thường không được chú ý đến là Chánh Niệm không phải chỉ có nhiệm vụ ghi nhận các tâm bất thiện mà còn ghi nhận các tâm thiện.
Qua khía cạnh đó, ta có thể áp dụng phương cách tương tự vào thiền tập nầy, không chỉ giới hạn vào những khoảnh khắc tư tưởng bất thiện xuất hiện trong tâm. Bắt đầu bằng cách xem xét các ý tưởng bất thiện có hiện diện trong tâm hay không. Nếu chúng có mặt, hành giả nỗ lực loại trừ và từ bỏ chúng, theo tinh thần bài kinh Girimānanda. Nếu không có tư tưởng bất thiện nào trong tâm, hành giả duy trì các điều kiện đối kháng với chúng.
Áp dụng cho ý tưởng tham dục (dục tâm), nếu khi xem xét và biết chắc được rằng các ý nghĩ đó hiện không có mặt trong tâm, hành giả tiếp tục duy trì trạng thái xả ly không vướng mắc vào ái dục, hướng tâm về xả ly. Tình trạng an bình và vui tươi của tâm sẽ giúp hành giả vững mạnh, sẵn sàng ngăn chận ái dục len lỏi, xâm chiếm tâm.
Sau khi an trú trong tình trạng xả ly, kế tiếp, ta có thể xem xét có dấu vết của sân hận nào đang ở trong tâm hay không (sân tâm). Nếu có, ta loại bỏ nó. Khi tâm trí không có sân hận, ít ra là tại khoảnh khắc nầy, ta tiếp tục giữ tâm trong trạng thái không có áy và sân hận. Một tình trạng như thế tự nó có liên quam đến lòng từ (mettā). An trú trong tâm từ (mettā) bằng cách tỏa rộng tình thương bao trùm mọi phương hướng, không giới hạn. An trú trong tâm từ vô lượng như thế, hành giả chú tâm tạo điều kiện thuận lợi, hoàn toàn thoát khỏi các ý tưởng sân hận.
Áp dụng quy trình tương tự như thế cho các tư tưởng gây tổn hại (hại tâm). Trong trường hợp nầy, lòng bi mẫn giúp đối kháng các bất thiện pháp ấy. An trú trong tâm bi (karuṇā), tâm trí không có các ý định gây hại. Đồng thờ, an trú như thế làm giảm thiểu khả năng các ý tưởng gây hại sinh ra trong tâm. Cũng vậy, ở đây, an trú trong tâm bi vô lượng nầy được thực hiện tốt nhất khi hành giả chú tâm về bản chất tự nhiên của lòng bi mẫn là hoàn toàn thoát khỏi các ý định gây tổn hại.
Trong khía cạnh cuối cùng của pháp quán tưởng về từ bỏ, liên quan đến sự vắng mặt của các ác bất thiện pháp, hành giả có thể tu dưỡng tâm xả (upekkhā). Ý định kiên quyết tiếp tục trú trong trạng thái tâm không chịu một tác động ác bất thiện nào có thể trở thành trạng thái an trú trong tâm xả, sẵn sàng đối điện với sự thu thúc của bất cứ điều gì bất thiện với tâm buông xả, trong trạng thái tâm cân bằng.
Nếu hành giả muốn kết hợp cả bốn tâm phạm trú nầy (cattāri brahmavihārā), tâm hỷ (muditā) cần được phát triển trong giai đoạn chuyển tiếp từ tâm bi sang tâm xả, bằng cách tạo lòng hoan hỷ, hân hoan với những ai có tâm hoàn toàn thoát khỏi những điều bất thiện và những ai đang thực hành tiến đến trạng thái nầy.
Nói tóm lại, tôi đề nghị tăng cường pháp quán tưởng về từ bỏ bằng cách cố ý nuôi dưỡng các trạng thái tâm đối kháng lại với những loại tư tưởng xấu ác mà hành giả cần phải từ bỏ, từ đó, dùng cơ hội nầy để tích hợp bốn tâm vô lượng (tứ phạm trú: từ, bi, hỷ, xả) vào tiến trình hành thiền.
Thực hiện đúng phương cách hành thiền nầy đưa đến gia tăng nhận thức nhanh chóng về sự xuất hiện của bất kỳ ý tưởng bất thiện nào trong tâm trí, và hành giả càng lúc càng trải nghiệm thường xuyên các trạng thái an lạc và yên bình của tâm đã thoát khỏi các ý tưởng bất thiện đó.
————————————————————————————-
THE PERCEPTION OF ABANDONING (5) Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts, Bhikkhu Anālayo (2017). pp 223-226
At this juncture in the meditative progression, the groundwork in insight has been completed by cultivating four perceptions that are in direct contrast to the four perversions – of mistaking what is impermanent, dukkha, not-self, and unattractive – for being the opposite. The trajectory so far has been to cultivate two perceptions that embrace the entirety of one’s experience, followed by two perceptions that focus on the body, with the second of these opening up the vista towards feelings. In line with the basic progression underlying the scheme of the four satipaṭṭhānas, at the present juncture the next topic is the condition of one’s mind. The four types of thoughts or mental conditions that one should overcome are:
• sensual desire, • ill will, • harming, • evil and unwholesome qualities.
In relation to each of these, the instructions in the Tibetan version are that one does “not dwell in arisen” sensual desire (or else ill will, harming, or evil and unwholesome qualities), “but removes it, eliminates it, does not become habituated to it, and does not cultivate it”. The Pāli version similarly recommends that one should not “tolerate” such a thought: “abandon it, remove it, terminate it, and do away with it.”
The topic of sensual desire naturally ties in with the previous perceptions. The perception of the absence of beauty in the body can offer a major contribution to undermining sensual desire of the sexual type and becoming well established in the opposite quality, an attitude of renunciation, nekkhamma, letting go of concern with sensual pleasures. This is the condition of the mind when sensual desire has gone into abeyance at least temporarily. Further support for the cultivation of renunciation comes from the perception of danger. The more one is able to let go of the quest for bodily pleasure through sensual indulgence, the less one will be affected by the impact of bodily pain when one becomes sick. Conversely, the more one realizes the body’s natural tendency to become sick and lead to pain, the less one will be prone to getting lost in the quest for sensual pleasure and gratification.
A basic distinction between harmful and wholesome mental conditions underlies the instructions on contemplation of the mind in the Satipaṭṭhāna-sutta and its parallels. An important and easily overlooked aspect of such practice is that mindfulness has the task not only to recognize what is unwholesome, but also to recognize what is wholesome.
The same perspective informs the approach I like to suggest for cultivating the present perception, which need not be confined to only those moments when one of these unwholesome thoughts manifests in the mind. Practice begins by examining whether the thought in question is present in one’s mind. If it is, one makes an effort to remove and abandon it, in line with the instructions in the Girimānanda-sutta and its Tibetan parallel. If the thought is not present in the mind, however, one could keep dwelling in the condition that is directly opposed to it.
Applied to the case of sensual desire, if a first inspection of the mind has ascertained that no such thought is present in one’s mind right now, practice can continue by dwelling with an attitude of renunciation of sensuality, inclining the mind towards renunciation. The peaceful and joyful condition of the mind experienced at this time will go a long way in strengthening one’s readiness to let go of any incursion of sensual desire into this wholesome and agreeable mental condition.
After dwelling in the condition of renunciation, one next examines whether there is even a trace of ill will present in the mind. If ill will is present, one removes it. Once the mind is at least temporarily free from ill will, one continues dwelling in a condition that is free from ill will and anger. Such a condition naturally relates to mettā. Dwelling in mettā could be done by way of the boundless radiation that I have discussed elsewhere. Dwelling in this divine abiding, one gives particular emphasis to mettā as a condition of being entirely free from ill will and aversion.
The same procedure holds for thoughts of harming, in which case the opposite mental condition is compassion. By dwelling in compassion the mind is free from any intention to harm. At the same time such dwelling will make it much less probable that harmfulness arises again in the mind. Here, too, the dwelling in this divine abode is best done with an emphasis on the nature of compassion as being totally free from any intent to harm.
In relation to the absence of evil and unwholesome qualities in the mind, mentioned as the last aspect for the perception of abandoning, one could cultivate the divine abode of equanimity. The firm determination to continue dwelling in a mental condition free from any unwholesome influence can become a form of dwelling in equanimity, ready to face the pull and push of anything unwholesome with the non-attachment of mental equipoise.
If one wishes to integrate all of the four brahmavihāras into the practice of the present perception, then sympathetic joy could be cultivated as a transition from compassion to equanimity, by way of rejoicing in relation to those whose mind is free from unwholesomeness and those who walk the path leading to this condition.
In short, my suggestion is to empower the perception of abandoning through the intentional cultivation of the mental conditions that are directly opposed to those types of thought one is required to abandon, thereby using this opportunity to integrate the divine abodes into the meditative progression.
Proper undertaking of this mode of practice manifests in an increasingly swift awareness of the occurrence of any of these unwholesome thoughts in the mind, and in the ever more frequent conscious experience of the pleasant and peaceful condition of a mind that is free from these.
———————————
Binh Anson

Nên xem

Thiền phái Trúc Lâm

  NHỮNG THIỀN SƯ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁI TRÚC LÂM Tại Việt Nam có …